Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017
Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017
Kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch Măng Cụt
Cây Măng Cụt có thể sinh trưởng ở nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là đất sét giàu hữu cơ, tầng canh tác dầy, thoát nước tốt và gần nguồn nước tưới.
I. GIỚI THIỆU
Măng cụt thuộc cây ăn quả nhiệt đới được trồng nhiều ở Thái Lan, Mã lai, Phi luật tân, Indonêsia và Việt nam. Măng cụt là loại trái cây được nhiều người ưa chuộng và dược xem như là nữ hoàng của cây ăn trái nhiệt đới bởi lẽ dáng trái đẹp và chứa nhiều chất bổ dưỡng. Giá bán tại Nhật lên đến 3USD/ trái
(trọng lượng > 80g), còn ở Thái lan 2USD/ Kg. Ở Thái lan năm 1990 đã xuất khẩu được 1.482 tấn trái thì đếùn 1993 Thái xuất khẩu dến 2.652 tấn, diện tích trồng măng cụt ở Thái năm 1994 là 34.127 ha. Tuy vậy sản xuất trái đúng tiêu chuẩn mới là quan trọng, nghĩa là trái phải có trọng lượng
> 80g vỏ trái đẹp và trái không bị sượng cứng. Hiện nay măng cụt ở Việt nam chỉ cho trái khi cây trồng 8-10 tuổi hay lâu hơn nữa tuỳ vào phương pháp chăm sóc. sau đây là quy trình trồng và chăm sóc cây măng cụt nhằm mục đích cây cho trái vào lúc đạt 4-5 tuổi đối với cây ghép, 5-6 năm tuổi đối với cây trồng từ hạt ( cây con 2 năm tuổi trong vườn ươm) và nhiều trái có trọng lượng trên 80g để có thể xuất khẩu.
II. YÊU CẦU SINH THÁI:
1. Lượng mưa:
Cây măng cụt không thể sinh trưởng phát triển tốt ở vùng không quá khô hay quá ẩm. Cây yêu cầu lượng mưa thấp nhất phải là 1270mm/ năm.
2. Nhiệt độ- ẩm độ:
Nhiệt độ thích hợp cho cây măng cụt phát triển ở vào khoảng 25-35oC và ẩm độ không khí thấp nhất là 80%
3. Che bóng:
Trong những năm đầu trồng ra ruộng sản xuất cây măng cụt cần phải được che bóng để giảm bớt ánh nắng mặt trời trực tiếp đến với cây. Nếu không ánh sáng mặt trời có thể làm hư hại đỉnh sinh trưởng cây chậm phát triển.
I. GIỚI THIỆU
Măng cụt thuộc cây ăn quả nhiệt đới được trồng nhiều ở Thái Lan, Mã lai, Phi luật tân, Indonêsia và Việt nam. Măng cụt là loại trái cây được nhiều người ưa chuộng và dược xem như là nữ hoàng của cây ăn trái nhiệt đới bởi lẽ dáng trái đẹp và chứa nhiều chất bổ dưỡng. Giá bán tại Nhật lên đến 3USD/ trái
(trọng lượng > 80g), còn ở Thái lan 2USD/ Kg. Ở Thái lan năm 1990 đã xuất khẩu được 1.482 tấn trái thì đếùn 1993 Thái xuất khẩu dến 2.652 tấn, diện tích trồng măng cụt ở Thái năm 1994 là 34.127 ha. Tuy vậy sản xuất trái đúng tiêu chuẩn mới là quan trọng, nghĩa là trái phải có trọng lượng
> 80g vỏ trái đẹp và trái không bị sượng cứng. Hiện nay măng cụt ở Việt nam chỉ cho trái khi cây trồng 8-10 tuổi hay lâu hơn nữa tuỳ vào phương pháp chăm sóc. sau đây là quy trình trồng và chăm sóc cây măng cụt nhằm mục đích cây cho trái vào lúc đạt 4-5 tuổi đối với cây ghép, 5-6 năm tuổi đối với cây trồng từ hạt ( cây con 2 năm tuổi trong vườn ươm) và nhiều trái có trọng lượng trên 80g để có thể xuất khẩu.
II. YÊU CẦU SINH THÁI:
1. Lượng mưa:
Cây măng cụt không thể sinh trưởng phát triển tốt ở vùng không quá khô hay quá ẩm. Cây yêu cầu lượng mưa thấp nhất phải là 1270mm/ năm.
2. Nhiệt độ- ẩm độ:
Nhiệt độ thích hợp cho cây măng cụt phát triển ở vào khoảng 25-35oC và ẩm độ không khí thấp nhất là 80%
3. Che bóng:
Trong những năm đầu trồng ra ruộng sản xuất cây măng cụt cần phải được che bóng để giảm bớt ánh nắng mặt trời trực tiếp đến với cây. Nếu không ánh sáng mặt trời có thể làm hư hại đỉnh sinh trưởng cây chậm phát triển.
Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017
Trồng Chuối để năng suất cao
Cây Chuối có tên khoa học là Musa sapientum L., thuộc họ Musaceae. Chuối là loại cây ăn quả nhiệt đới, ngắn ngày, dễ trồng và cho sản lượng khá cao, trung bình có thể đạt năng suất 20-30 tấn/ha. Hiện nay, trên thế giới, nước đạt năng suất chuối cao nhất là Goatemala 100 tấn/ha. Chuối có giá trị kinh tế khá lớn và là mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước.
Ở nước ta, khí hậu bốn mùa đều phù hợp cho chuối phát triển, từ Bắc đến Nam, đồng bằng cũng như miền núi, ở đâu và mùa nào cũng có chuối. Chuối đối với người Việt Nam là rau, là quả, là lương thực, thực phẩm. Sản lượng chuối ở ta hàng năm cũng khá, ngoài việc tiêu thụ nội địa, chúng ta còn xuất khẩu một lượng khá lớn. Tuy vậy, so với nhiều nước xuất khẩu chuối thì năng suất trồng chuối nước ta còn thấp. Vì vậy, việc giúp bà con nông dân nắm được những kinh nghiệm trong kỹ thuật trồng chuối, nhằm nâng cao năng suất là hết sức cần thiết.
* Điều kiện sinh thái của cây chuối:
– Nhu cầu về nhiệt độ: Chuối sinh trưởng và phát triển thuận lợi trong phạm vi 25-35oC. Khi nhiệt độ giảm đến 10oC thì quả chuối nhỏ, phẩm chất kém, sinh trưởng chậm. Chuối sợ rét và sương muối, khi gặp sương muối kéo dài lá chuối sẽ xám lại và héo khô. Như vậy, ở nước ta, nhất là các tỉnh miền Nam, Nam Trung bộ, bình quân nhiệt độ hàng năm lớn hơn 24oC, nên có lượng nhiệt rất tốt cho chuối phát triển.
– Nhu cầu về nước: Hàm lượng nước trong các bộ phận cây chuối rất cao, trong thân già 92,4%, trong rễ 96%, trong lá 82,6% và trong quả 96%. Độ bốc hơi của lá rất lớn, dưới ánh nắng mặt trời, sức tiêu hao nước của chuối từ 40-50mg/dm2/phút. Với giống chuối tiêu lùn, cần từ 15-20 lít nước/ngày tuỳ theo trời râm hay trời nắng. Chú ý vào mùa đông ở nước ta thường khô hanh, ít mưa nên cần có biện pháp tưới ẩm để cung cấp đủ nước cho chuối.
– Nhu cầu về ánh sáng: Chuối có khả năng thích ứng trong phạm vi cường độ ánh sáng tương đối rộng. Cho nên lượng ánh sáng ở điều kiện nước ta cũng cho phép cây chuối sinh trưởng và phát triển tốt.
* Nên trồng chuối từ loại chồi nào:
Hình thức nhân giống chuối chủ yếu là nhân giống vô tính. Người ta thường dùng loại chồi con để trồng. Chồi con được hình thành từ những mầm ngủ mọc trên thân ngầm của chuối, thường có 2 loại chồi con: chồi con đuôi chiên và chồi con lá rộng. Theo nhiều kinh nghiệm, loại chồi con đuôi chiên được sử dụng trồng tốt nhất. Nó được sinh ra khoảng tháng 4 đến tháng 6. Trong điều kiện đầy đủ ánh sáng, nhiệt độ thích hợp, loại chồi non này sinh ra rất nhanh, tốc độ sinh trưởng rất mạnh. Chồi này rất sung sức, khi trồng mau bén rễ, tốc độ hồi sinh nhanh, sinh trưởng mạnh và mau ra buồng, sản lượng cao.
Ngoài chồi con, ở một số nơi đã chọn củ chuối (thân ngầm) để nhân giống, ở nước ta chưa áp dụng nhiều nhưng ở Trung Quốc, các nước châu Phi, châu Mỹ đã áp dụng nhiều phương pháp trồng bằng củ chuối. Theo họ, phương pháp này có lợi ở những mặt: dễ vận chuyển, con giống mọc ra từ củ tương đối đồng đều nên khi trồng dễ chăm sóc và thu hoạch, hệ số nhân giống cũng tương đối cao vì khi ta bổ một củ ra đem trồng có thể đạt được từ 4 đến 6 cây con.
* Yêu cầu về loại đất trồng chuối:
Chuối là loại cây dễ trồng, yêu cầu về đất không quá nghiêm khắc. Tốt nhất đối với chuối là đất thịt nhẹ, đất pha cát, đất phù sa (tốt hơn cả), đất thoáng có cấu tượng tốt và độ xốp cao. Về hóa tính đất, chuối rất cần các chất khoáng trong đất như N, P, K, Ca, Mg, trong đó hai yếu tố chính là N và K. Kết quả phân tích hàm lượng các chất khoáng trong giống chuối tiêu lùn cho thấy:
Chất khoáng Hàm lượng (kg/tấn quả tươi)
N
P
K
Ca
Mg 1,0 – 2,0
0,18 – 0,22
4,3 – 4,9
0,09 – 0,21
0,11 – 0,32
Chuối mọc bình thường trong đất có pH từ 4,5-8, tốt nhất trong khoảng 6-7,5. Trường hợp đất quá chua hoặc quá kiềm có thể gây ra hiện tượng thiếu vi lượng trong đất, ảnh hưởng đến sinh trưởng của chuối.
* Mật độ trồng chuối thích hợp:
Mật độ trồng dày hay thưa phụ thuộc vào giống chuối. Đối với giống càng thấp cây, tán lá hẹp như chuối tiêu lùn, chuối ngự có thể trồng dày, còn các loại như chuối tiêu vừa, chuối tiêu cao, chuối lá, chuối gòn,…lại trồng thưa hơn. Ở các vườn chuối nước ta, mật độ trồng phổ biến khoảng trên dưới 1.000 cây/ha (với chuối tiêu vừa và lùn), khoảng cách trồng: 3m x 3m (1100 cây/ha) hoặc 3m x 2,5m (1.300 cây/ha). Tuy nhiên, so với các nước khác, mật độ trồng nước ta quá thưa nên năng suất thấp hơn nhiều. Theo nhiều kinh nghiệm cho biết, ở nước ta đối với giống chuối tiêu lùn, có thể trồng 20.00-2.500 cây/ha. Tuy nhiên, khi trồng mật độ dày cần phải chú ý: Chọn cây con thật đồng đều nhằm tránh hiện tượng lấn át, tranh giành dinh dưỡng và ánh sáng giữa các cây; chú ý bón phân đúng mức và phòng tránh kịp thời bệnh đốm lá cho cây; trồng dày hợp lý có tác dụng tốt cho vườn chuối, vườn sớm được che bóng, ít cỏ dại, tạo điều kiện nóng ẩm phù hợp với cây chuối và tốt hơn cả là tăng năng suất chuối.
Ở nước ta, khí hậu bốn mùa đều phù hợp cho chuối phát triển, từ Bắc đến Nam, đồng bằng cũng như miền núi, ở đâu và mùa nào cũng có chuối. Chuối đối với người Việt Nam là rau, là quả, là lương thực, thực phẩm. Sản lượng chuối ở ta hàng năm cũng khá, ngoài việc tiêu thụ nội địa, chúng ta còn xuất khẩu một lượng khá lớn. Tuy vậy, so với nhiều nước xuất khẩu chuối thì năng suất trồng chuối nước ta còn thấp. Vì vậy, việc giúp bà con nông dân nắm được những kinh nghiệm trong kỹ thuật trồng chuối, nhằm nâng cao năng suất là hết sức cần thiết.
* Điều kiện sinh thái của cây chuối:
– Nhu cầu về nhiệt độ: Chuối sinh trưởng và phát triển thuận lợi trong phạm vi 25-35oC. Khi nhiệt độ giảm đến 10oC thì quả chuối nhỏ, phẩm chất kém, sinh trưởng chậm. Chuối sợ rét và sương muối, khi gặp sương muối kéo dài lá chuối sẽ xám lại và héo khô. Như vậy, ở nước ta, nhất là các tỉnh miền Nam, Nam Trung bộ, bình quân nhiệt độ hàng năm lớn hơn 24oC, nên có lượng nhiệt rất tốt cho chuối phát triển.
– Nhu cầu về nước: Hàm lượng nước trong các bộ phận cây chuối rất cao, trong thân già 92,4%, trong rễ 96%, trong lá 82,6% và trong quả 96%. Độ bốc hơi của lá rất lớn, dưới ánh nắng mặt trời, sức tiêu hao nước của chuối từ 40-50mg/dm2/phút. Với giống chuối tiêu lùn, cần từ 15-20 lít nước/ngày tuỳ theo trời râm hay trời nắng. Chú ý vào mùa đông ở nước ta thường khô hanh, ít mưa nên cần có biện pháp tưới ẩm để cung cấp đủ nước cho chuối.
– Nhu cầu về ánh sáng: Chuối có khả năng thích ứng trong phạm vi cường độ ánh sáng tương đối rộng. Cho nên lượng ánh sáng ở điều kiện nước ta cũng cho phép cây chuối sinh trưởng và phát triển tốt.
* Nên trồng chuối từ loại chồi nào:
Hình thức nhân giống chuối chủ yếu là nhân giống vô tính. Người ta thường dùng loại chồi con để trồng. Chồi con được hình thành từ những mầm ngủ mọc trên thân ngầm của chuối, thường có 2 loại chồi con: chồi con đuôi chiên và chồi con lá rộng. Theo nhiều kinh nghiệm, loại chồi con đuôi chiên được sử dụng trồng tốt nhất. Nó được sinh ra khoảng tháng 4 đến tháng 6. Trong điều kiện đầy đủ ánh sáng, nhiệt độ thích hợp, loại chồi non này sinh ra rất nhanh, tốc độ sinh trưởng rất mạnh. Chồi này rất sung sức, khi trồng mau bén rễ, tốc độ hồi sinh nhanh, sinh trưởng mạnh và mau ra buồng, sản lượng cao.
Ngoài chồi con, ở một số nơi đã chọn củ chuối (thân ngầm) để nhân giống, ở nước ta chưa áp dụng nhiều nhưng ở Trung Quốc, các nước châu Phi, châu Mỹ đã áp dụng nhiều phương pháp trồng bằng củ chuối. Theo họ, phương pháp này có lợi ở những mặt: dễ vận chuyển, con giống mọc ra từ củ tương đối đồng đều nên khi trồng dễ chăm sóc và thu hoạch, hệ số nhân giống cũng tương đối cao vì khi ta bổ một củ ra đem trồng có thể đạt được từ 4 đến 6 cây con.
* Yêu cầu về loại đất trồng chuối:
Chuối là loại cây dễ trồng, yêu cầu về đất không quá nghiêm khắc. Tốt nhất đối với chuối là đất thịt nhẹ, đất pha cát, đất phù sa (tốt hơn cả), đất thoáng có cấu tượng tốt và độ xốp cao. Về hóa tính đất, chuối rất cần các chất khoáng trong đất như N, P, K, Ca, Mg, trong đó hai yếu tố chính là N và K. Kết quả phân tích hàm lượng các chất khoáng trong giống chuối tiêu lùn cho thấy:
Chất khoáng Hàm lượng (kg/tấn quả tươi)
N
P
K
Ca
Mg 1,0 – 2,0
0,18 – 0,22
4,3 – 4,9
0,09 – 0,21
0,11 – 0,32
Chuối mọc bình thường trong đất có pH từ 4,5-8, tốt nhất trong khoảng 6-7,5. Trường hợp đất quá chua hoặc quá kiềm có thể gây ra hiện tượng thiếu vi lượng trong đất, ảnh hưởng đến sinh trưởng của chuối.
* Mật độ trồng chuối thích hợp:
Mật độ trồng dày hay thưa phụ thuộc vào giống chuối. Đối với giống càng thấp cây, tán lá hẹp như chuối tiêu lùn, chuối ngự có thể trồng dày, còn các loại như chuối tiêu vừa, chuối tiêu cao, chuối lá, chuối gòn,…lại trồng thưa hơn. Ở các vườn chuối nước ta, mật độ trồng phổ biến khoảng trên dưới 1.000 cây/ha (với chuối tiêu vừa và lùn), khoảng cách trồng: 3m x 3m (1100 cây/ha) hoặc 3m x 2,5m (1.300 cây/ha). Tuy nhiên, so với các nước khác, mật độ trồng nước ta quá thưa nên năng suất thấp hơn nhiều. Theo nhiều kinh nghiệm cho biết, ở nước ta đối với giống chuối tiêu lùn, có thể trồng 20.00-2.500 cây/ha. Tuy nhiên, khi trồng mật độ dày cần phải chú ý: Chọn cây con thật đồng đều nhằm tránh hiện tượng lấn át, tranh giành dinh dưỡng và ánh sáng giữa các cây; chú ý bón phân đúng mức và phòng tránh kịp thời bệnh đốm lá cho cây; trồng dày hợp lý có tác dụng tốt cho vườn chuối, vườn sớm được che bóng, ít cỏ dại, tạo điều kiện nóng ẩm phù hợp với cây chuối và tốt hơn cả là tăng năng suất chuối.
Thứ Ba, 16 tháng 5, 2017
Kĩ thuật trồng Thanh Long đạt chuẩn xuất khẩu
Nhắc đến đặc sản trái cây ở Hưng Yên, người ta thường nghĩ ngay đến nhãn lồng, nhưng trong những năm gần đây, Hưng Yên còn có một trái cây đặc sản khác đó là chuối tiêu hồng.
Chuối tiêu hồng được Viện Nghiên cứu Rau quả nghiên cứu và tuyển chọn có chất lượng ngon, mùi thơm, màu đẹp, để lâu không bị nát nên thường được tiêu thụ vào dịp Tết Nguyên đán và xuất khẩu đem lại lợi ích kinh tế lớn. Tuy nhiên, cây chuối có nhu cầu dinh dưỡng cao nên sẽ làm đất nhanh bị bạc màu, cây nhanh bị tàn nếu không có chế độ phân bón đầy đủ và hợp lý. Chuối cần nhiều nhất là kali và đạm sau đó đến lân, ngoài ra cây cũng hút khá nhiều canxi, magiê, lưu huỳnh và nhiều chất vi lượng. Một số triệu trứng thiếu dinh dưỡng dễ phân biệt như sau:
– Đa lượng: Thiếu đạm (N) cây bị úa vàng đặc biệt các lá già, phiến lá có màu vàng xanh lợt, cuống và bẹ màu xanh hơi hồng. Khi thiếu nhiều cây sinh trưởng chậm, thân mảnh, lá nhỏ và chóng tàn, phân hóa mầm hoa kém, năng suất thấp; Thiếu lân (P2O5) lá già có màu xanh thẫm, sau chuyển sang xanh nhạt hoặc màu đồng thau. Mép lá xuất hiện những vết chết khô không liên tục ăn vào gân lá tạo thành hình răng cưa, vết khô lan nhanh làm lá héo nhanh và tàn sớm; Thiếu kali (K2O) xuất hiện các vệt màu nâu, nâu tím trên các rãnh của gân lá, sau đó toàn bộ mặt lá chuyển màu vàng óng, bắt đầu từ những lá già. Phiến lá bị rách, lá chuyển khô và bị gẫy gập xuống. Hiện tượng này lan dần từ lá già tới lá non làm cho cây chuối trụi lá dần, năng suất sụt giảm nghiêm trọng.
– Các trung lượng: Thiếu canxi (Ca) xuất hiện những vệt vàng hình răng cưa không liên tục ở đầu lá, sau chuyển vàng óng và đỏ nâu, gân lá dày lên, lá uốn cong, thiếu nặng làm lá búp bị nghẹt, vỏ quả nứt; thiếu magiê (Mg) xuất hiện những vệt màu trắng vàng dọc theo mép lá, mép lá úa vàng và khô nhanh, lá già xuất hiện trước; thiếu lưu huỳnh (S) làm gân phụ dày lên, lá uốn cong, mép lá gợn sóng, phiến lá xuất hiện nhiều đốm chấm tạo thành dải sọc.
– Một số vi lượng: Thiếu bo (B) làm lá bị cong một bên, lượn sóng, đầu lá bị xoắn lại, cây con ra nhiều nhưng sinh trưởng bị đình trệ; Thiếu mangan (Mn) xuất hiện úa vàng từ lá thứ 2 đến lá thứ 4 sau lan dần ra các lá khác, vệt úa vàng xen kẽ những vệt xanh tạo thành hình răng lược; Thiếu đồng (Cu) làm bẹ và lá cây bị úa vàng. Mép các lá già xuất hiện vệt chết khô ở mép lá, sinh trưởng của cây bị chậm lại, lá bị rũ xuống, số lá giảm…
Cách bón phân cho chuối:
– Bón lót trước khi trồng: 10-15kg phân hữu cơ + 1-2kg lân cho mỗi hố trồng.
– Tưới thúc: Định kỳ 15 ngày tưới một lần bằng cách hòa 50-100gam NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu trong 10-15 lít nước. Bắt đầu tưới sau trồng 10 ngày và khi được 2 tháng thì chuyển qua bón vào đất.
– Bón thúc: Sau trồng 2 tháng bón phân NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu, lượng bón 30-50 gam/cây/lần.
– Sau trồng 3-4 tháng: 100-150kg NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu/cây.
Từ tháng thứ 5 trở đi tới khi thu hoạch lần đầu, mỗi tháng bón một lần bằng phân NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu. Lượng bón 200-300 gam/cây, bón rải quanh gốc cây.
– Với chuối đã cho thu hoạch, đã mọc thành bụi (2-5 cây) lượng bón ở các thời kỳ như sau:
+ Sau khi thu hoạch: Đào bỏ ngay cây mẹ và bón cho mỗi bụi 5-10kg phân chuồng + 0,5-1,0kg NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu.
+ Trước khi chuối trổ hoa: Bón 0,5-1kg NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu/bụi.
+ Sau khi trổ hoa: Bón định kỳ 1-1,5 tháng/lần bằng phân NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu. Lượng bón 0,5-0,75 kg/bụi/lần.
Chuối tiêu hồng được Viện Nghiên cứu Rau quả nghiên cứu và tuyển chọn có chất lượng ngon, mùi thơm, màu đẹp, để lâu không bị nát nên thường được tiêu thụ vào dịp Tết Nguyên đán và xuất khẩu đem lại lợi ích kinh tế lớn. Tuy nhiên, cây chuối có nhu cầu dinh dưỡng cao nên sẽ làm đất nhanh bị bạc màu, cây nhanh bị tàn nếu không có chế độ phân bón đầy đủ và hợp lý. Chuối cần nhiều nhất là kali và đạm sau đó đến lân, ngoài ra cây cũng hút khá nhiều canxi, magiê, lưu huỳnh và nhiều chất vi lượng. Một số triệu trứng thiếu dinh dưỡng dễ phân biệt như sau:
– Đa lượng: Thiếu đạm (N) cây bị úa vàng đặc biệt các lá già, phiến lá có màu vàng xanh lợt, cuống và bẹ màu xanh hơi hồng. Khi thiếu nhiều cây sinh trưởng chậm, thân mảnh, lá nhỏ và chóng tàn, phân hóa mầm hoa kém, năng suất thấp; Thiếu lân (P2O5) lá già có màu xanh thẫm, sau chuyển sang xanh nhạt hoặc màu đồng thau. Mép lá xuất hiện những vết chết khô không liên tục ăn vào gân lá tạo thành hình răng cưa, vết khô lan nhanh làm lá héo nhanh và tàn sớm; Thiếu kali (K2O) xuất hiện các vệt màu nâu, nâu tím trên các rãnh của gân lá, sau đó toàn bộ mặt lá chuyển màu vàng óng, bắt đầu từ những lá già. Phiến lá bị rách, lá chuyển khô và bị gẫy gập xuống. Hiện tượng này lan dần từ lá già tới lá non làm cho cây chuối trụi lá dần, năng suất sụt giảm nghiêm trọng.
– Các trung lượng: Thiếu canxi (Ca) xuất hiện những vệt vàng hình răng cưa không liên tục ở đầu lá, sau chuyển vàng óng và đỏ nâu, gân lá dày lên, lá uốn cong, thiếu nặng làm lá búp bị nghẹt, vỏ quả nứt; thiếu magiê (Mg) xuất hiện những vệt màu trắng vàng dọc theo mép lá, mép lá úa vàng và khô nhanh, lá già xuất hiện trước; thiếu lưu huỳnh (S) làm gân phụ dày lên, lá uốn cong, mép lá gợn sóng, phiến lá xuất hiện nhiều đốm chấm tạo thành dải sọc.
– Một số vi lượng: Thiếu bo (B) làm lá bị cong một bên, lượn sóng, đầu lá bị xoắn lại, cây con ra nhiều nhưng sinh trưởng bị đình trệ; Thiếu mangan (Mn) xuất hiện úa vàng từ lá thứ 2 đến lá thứ 4 sau lan dần ra các lá khác, vệt úa vàng xen kẽ những vệt xanh tạo thành hình răng lược; Thiếu đồng (Cu) làm bẹ và lá cây bị úa vàng. Mép các lá già xuất hiện vệt chết khô ở mép lá, sinh trưởng của cây bị chậm lại, lá bị rũ xuống, số lá giảm…
Cách bón phân cho chuối:
– Bón lót trước khi trồng: 10-15kg phân hữu cơ + 1-2kg lân cho mỗi hố trồng.
– Tưới thúc: Định kỳ 15 ngày tưới một lần bằng cách hòa 50-100gam NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu trong 10-15 lít nước. Bắt đầu tưới sau trồng 10 ngày và khi được 2 tháng thì chuyển qua bón vào đất.
– Bón thúc: Sau trồng 2 tháng bón phân NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu, lượng bón 30-50 gam/cây/lần.
– Sau trồng 3-4 tháng: 100-150kg NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu/cây.
Từ tháng thứ 5 trở đi tới khi thu hoạch lần đầu, mỗi tháng bón một lần bằng phân NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu. Lượng bón 200-300 gam/cây, bón rải quanh gốc cây.
– Với chuối đã cho thu hoạch, đã mọc thành bụi (2-5 cây) lượng bón ở các thời kỳ như sau:
+ Sau khi thu hoạch: Đào bỏ ngay cây mẹ và bón cho mỗi bụi 5-10kg phân chuồng + 0,5-1,0kg NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu.
+ Trước khi chuối trổ hoa: Bón 0,5-1kg NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu/bụi.
+ Sau khi trổ hoa: Bón định kỳ 1-1,5 tháng/lần bằng phân NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu. Lượng bón 0,5-0,75 kg/bụi/lần.
Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017
Tỉa cành, tỉa hoa, tạo tán cây Thanh Long
Giống đu đủ Đai Loan là giống đu đủ mới được nhập vào trồng ở nước ta trong thời gian gần đây. Do có nhiều ưu điểm: cây thấp trung bình 1,5-2,5m, sinh trưởng khỏe, ít bị nhiễm bệnh khảm, có ti lệ cây cái cao… nên nhanh chóng được trồng phổ biến khắp cả nước. Ở miền Nam giống đu đủ Đài Loan (giống đu đủTrạng nguyên ) được trồng nhiều ở các tỉnh miền Đông và Tây Nam Bộ.
I. Kỹ thuật gieo ươm cây giống
– Ngâm ủ hạt giống: Chọn hạt giống có tỷ lệ nảy mầm cao, ngâm hạt vào nước, loại bỏ các hạt lép lửng, chỉ lấy các hạt chắc mẩy chìm dưới nước. Ngâm hạt trong nước ấm 3 sôi 2 lạnh trong 5 giờ rồi tiến hành ủ hạt trong bao tải đay ẩm. Thời gian ủ 4-5 ngày, hàng ngày nhặt các hạt nứt nanh nảy mầm mang gieo.
– Làm bầu gieo cây giống: Dùng túi nilon kích thước 12x7cm (có đục lỗ thoát nước), lấy đất phù sa hay thịt nhẹ, làm đất nhỏ kỹ, trộn phân chuồng hoai mục với tỷ lệ 3 đất 1 phân cho vào đầy túi. Mỗi bầu túi gieo một hạt, ấn nhẹ hạt vào trong bầu và phủ ít đất mịn lên trên. Gieo hạt xong cần tưới ẩm. Xếp các bầu cây vào khay, để ở nơi có mái che nắng mưa cho cây, nếu có điều kiện gieo trong nhà lưới là tốt nhất.
Tưới hàng ngày cho cây đủ ẩm bằng bình bơm, khi cây có 2-4 lá thật thì 2 ngày tưới 1 lần, điều chỉnh giàn che để cây con có đủ ánh sáng, cây sinh trưởng mới tốt, cây mọc thẳng và cứng cáp. Làm sạch cỏ và phòng trừ sâu bệnh hại cho cây con. Khi cây có 4-5 lá thật, cao 15-20cm có thể xuất vườn. Đu đủ Đài Loan cho năng suất cao và chất lượng quả rất tốt, song là cây giống lai F1 nên hạt không dùng để gieo làm giống được.
II. Kỹ thuật trồng
Tỉa cành tạo tán là giúp cho thanh long là tạo bộ tán, bộ khung cân đối hài hòa và đẹp mắt, cắt bỏ bớt những cành yếu, xấu và khả năng cho trái kém.
Thanh Long
Sau khi trồng, cần chọn lại để cành phát triển tốt và buộc áp sát vào cây trụ từ mặt đất cho tới giá đỡ.
Tỉa cành trên giá đỡ theo nguyên tắc, 1 cành chính (cành mẹ) để lại 1 – 2 cành con, phải chọn cành mạnh khoẻ, loại bỏ cành sâu bệnh, ốm yếu hay cành già không thể cho trái tốt, cành nằm khuất bên trong không nhận được ánh sáng.
Khi cành dài 1,2m – 1,5m phải bấm đọt cành giúp cành phát triển tốt và nhanh cho trái. Khoảng năm thứ năm trở đi sau mỗi vụ thu hoạch cần thường xuyên tỉa cành, tạo tán.
Tỉa cành và tạo tán giúp cây sinh trưởng mạnh cho năng suất cao, trái đẹp, to tròn và thời gian cho trái được kéo dài.
Còn khi nụ nhiều trên cành phải tỉa hoa, loại bỏ trái xấu và những trái phát triển kém có dấu vết sâu bệnh. Chỉ để 2 nụ trên mỗi cành, lưu ý hai nụ trên cùng một cành không nên ở gần nhau. Sau khi hoa nở 5 – 7 tiến hành tỉa trái, tốt nhất là 1 cành chỉ một trái phát triển tốt.
Có thể trồng đu đủ vụ xuân (tháng 3-4) hay vụ thu (tháng 9-10). Đu đủ sau trồng 2,5 tháng thì ra hoa, sau trồng 7 tháng thì cho thu hoạch quả xanh, thu hoạch quả chín thì sau 9 tháng.
Trồng đu đủ theo hố, kích thước dài/rộng/sâu là 60/60/30cm, khoảng cách trồng 2,5x2m (khoảng 2.000 cây/ha). Sau khi đào hố, tiến hành bón lót. Mỗi hố bón 10-15kg phân chuồng, 0,5kg lân, 0,2kg kali, 0,5kg vôi bột. Trộn đều tất cả phân với đất mặt rồi lấp đầy hố trồng.
Đặt bầu cây giữa hố, dùng dao sắc rạch nhẹ gỡ bỏ bầu nilon (không làm vỡ bầu), vun đất quanh bầu, nén chặt gốc và tưới đủ ẩm cho cây. Dùng rơm rạ hay bèo phủ giữ ẩm cho đất. Khi cây bén rễ sinh trưởng tốt, cắm cọc ghì cây để giữ cây khỏi đổ qua mưa gió bão, khi cây lớn nới dần dây buộc.
III. Chế độ chăm sóc
Bón thúc 3 lần trong năm đầu: lần 1 sau trồng 4-6 tuần, lần 2 khi cây ra hoa kết quả, lần 3 khi quả lớn. Mỗi lần bón 200g urê, 100g lân, 200g kali. Hoà toàn bộ phân vào nước, tưới xung quanh và cách gốc 30-40cm. Khi cây mang quả nặng cần cắm cọc chống gió bão cho đu đủ, cắt bỏ lá già gần gốc, khơi rãnh thoát nước chống úng cho cây; làm sạch cỏ dại, xới xáo cho đất thông thoáng. Mùa khô cần ủ rơm rạ quanh gốc giữ ẩm cho cây. Năm sau, cây đu đủ thường phát triển kém đi, chọn để lại những cây khoẻ, loại bỏ cây yếu kém và trồng thế bằng cây con mới. Chế độ chăm sóc năm sau không khác gì năm đầu.
Trong quá trình sinh trưởng, đu đủ có thể bị một số sâu hại như rệp sáp, bọ nhảy, bọ xít, nhện đỏ… phá. Có thể phun Decis 2,5 ND (nồng độ 0,1%), Trebon (1%) khi mật độ sâu hại cao. Các bệnh hại đu đủ như virus xoăn ngọn đốm vàng, bệnh phấn trắng, bệnh thán thư… Để phòng tránh bệnh nên thực hiện tốt luân canh cây trồng, chọn trồng giống kháng bệnh, bón cân đối NPK để cây khoẻ, chống chịu bệnh tốt. Phát hiện sớm bệnh để phun Daconil, Topsin hay Zineb, Mancozeb (đối với các bệnh nấm phấn trắng hay thán thư).
I. Kỹ thuật gieo ươm cây giống
– Ngâm ủ hạt giống: Chọn hạt giống có tỷ lệ nảy mầm cao, ngâm hạt vào nước, loại bỏ các hạt lép lửng, chỉ lấy các hạt chắc mẩy chìm dưới nước. Ngâm hạt trong nước ấm 3 sôi 2 lạnh trong 5 giờ rồi tiến hành ủ hạt trong bao tải đay ẩm. Thời gian ủ 4-5 ngày, hàng ngày nhặt các hạt nứt nanh nảy mầm mang gieo.
– Làm bầu gieo cây giống: Dùng túi nilon kích thước 12x7cm (có đục lỗ thoát nước), lấy đất phù sa hay thịt nhẹ, làm đất nhỏ kỹ, trộn phân chuồng hoai mục với tỷ lệ 3 đất 1 phân cho vào đầy túi. Mỗi bầu túi gieo một hạt, ấn nhẹ hạt vào trong bầu và phủ ít đất mịn lên trên. Gieo hạt xong cần tưới ẩm. Xếp các bầu cây vào khay, để ở nơi có mái che nắng mưa cho cây, nếu có điều kiện gieo trong nhà lưới là tốt nhất.
Tưới hàng ngày cho cây đủ ẩm bằng bình bơm, khi cây có 2-4 lá thật thì 2 ngày tưới 1 lần, điều chỉnh giàn che để cây con có đủ ánh sáng, cây sinh trưởng mới tốt, cây mọc thẳng và cứng cáp. Làm sạch cỏ và phòng trừ sâu bệnh hại cho cây con. Khi cây có 4-5 lá thật, cao 15-20cm có thể xuất vườn. Đu đủ Đài Loan cho năng suất cao và chất lượng quả rất tốt, song là cây giống lai F1 nên hạt không dùng để gieo làm giống được.
II. Kỹ thuật trồng
Tỉa cành tạo tán là giúp cho thanh long là tạo bộ tán, bộ khung cân đối hài hòa và đẹp mắt, cắt bỏ bớt những cành yếu, xấu và khả năng cho trái kém.
Thanh Long
Sau khi trồng, cần chọn lại để cành phát triển tốt và buộc áp sát vào cây trụ từ mặt đất cho tới giá đỡ.
Tỉa cành trên giá đỡ theo nguyên tắc, 1 cành chính (cành mẹ) để lại 1 – 2 cành con, phải chọn cành mạnh khoẻ, loại bỏ cành sâu bệnh, ốm yếu hay cành già không thể cho trái tốt, cành nằm khuất bên trong không nhận được ánh sáng.
Khi cành dài 1,2m – 1,5m phải bấm đọt cành giúp cành phát triển tốt và nhanh cho trái. Khoảng năm thứ năm trở đi sau mỗi vụ thu hoạch cần thường xuyên tỉa cành, tạo tán.
Tỉa cành và tạo tán giúp cây sinh trưởng mạnh cho năng suất cao, trái đẹp, to tròn và thời gian cho trái được kéo dài.
Còn khi nụ nhiều trên cành phải tỉa hoa, loại bỏ trái xấu và những trái phát triển kém có dấu vết sâu bệnh. Chỉ để 2 nụ trên mỗi cành, lưu ý hai nụ trên cùng một cành không nên ở gần nhau. Sau khi hoa nở 5 – 7 tiến hành tỉa trái, tốt nhất là 1 cành chỉ một trái phát triển tốt.
Có thể trồng đu đủ vụ xuân (tháng 3-4) hay vụ thu (tháng 9-10). Đu đủ sau trồng 2,5 tháng thì ra hoa, sau trồng 7 tháng thì cho thu hoạch quả xanh, thu hoạch quả chín thì sau 9 tháng.
Trồng đu đủ theo hố, kích thước dài/rộng/sâu là 60/60/30cm, khoảng cách trồng 2,5x2m (khoảng 2.000 cây/ha). Sau khi đào hố, tiến hành bón lót. Mỗi hố bón 10-15kg phân chuồng, 0,5kg lân, 0,2kg kali, 0,5kg vôi bột. Trộn đều tất cả phân với đất mặt rồi lấp đầy hố trồng.
Đặt bầu cây giữa hố, dùng dao sắc rạch nhẹ gỡ bỏ bầu nilon (không làm vỡ bầu), vun đất quanh bầu, nén chặt gốc và tưới đủ ẩm cho cây. Dùng rơm rạ hay bèo phủ giữ ẩm cho đất. Khi cây bén rễ sinh trưởng tốt, cắm cọc ghì cây để giữ cây khỏi đổ qua mưa gió bão, khi cây lớn nới dần dây buộc.
III. Chế độ chăm sóc
Bón thúc 3 lần trong năm đầu: lần 1 sau trồng 4-6 tuần, lần 2 khi cây ra hoa kết quả, lần 3 khi quả lớn. Mỗi lần bón 200g urê, 100g lân, 200g kali. Hoà toàn bộ phân vào nước, tưới xung quanh và cách gốc 30-40cm. Khi cây mang quả nặng cần cắm cọc chống gió bão cho đu đủ, cắt bỏ lá già gần gốc, khơi rãnh thoát nước chống úng cho cây; làm sạch cỏ dại, xới xáo cho đất thông thoáng. Mùa khô cần ủ rơm rạ quanh gốc giữ ẩm cho cây. Năm sau, cây đu đủ thường phát triển kém đi, chọn để lại những cây khoẻ, loại bỏ cây yếu kém và trồng thế bằng cây con mới. Chế độ chăm sóc năm sau không khác gì năm đầu.
Trong quá trình sinh trưởng, đu đủ có thể bị một số sâu hại như rệp sáp, bọ nhảy, bọ xít, nhện đỏ… phá. Có thể phun Decis 2,5 ND (nồng độ 0,1%), Trebon (1%) khi mật độ sâu hại cao. Các bệnh hại đu đủ như virus xoăn ngọn đốm vàng, bệnh phấn trắng, bệnh thán thư… Để phòng tránh bệnh nên thực hiện tốt luân canh cây trồng, chọn trồng giống kháng bệnh, bón cân đối NPK để cây khoẻ, chống chịu bệnh tốt. Phát hiện sớm bệnh để phun Daconil, Topsin hay Zineb, Mancozeb (đối với các bệnh nấm phấn trắng hay thán thư).
Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017
Quy trình bón phân ở cam Vinh
Với việc sử dụng loại phân NPK, sau khi thu hoạch, cam Vinh cần được chăm bón theo quy trình kỹ thuật tập trung vào 04 đợt sau đây:
– Đợt 1(khoảng tháng 11 – 12): Làm cỏ, tỉa cành, bón phân. Trong đó, bón phân được coi là yếu tố quan trọng nhất với công thức bón gồm: 100% phân hữu cơ ủ hoai + 100% phân NPK 5.10.3 + 100% vôi. Cách bón phân để đạt hiệu quả tối đa gồm: đào rãnh xung quanh tán, trộn đều và bón theo rãnh đào rồi dùng đất lấp kín phân.
– Đợt 2: Bón thúc đón hoa (tháng 1 – 2) bón 40% lượng NPK.
– Đợt 3: Bón thúc quả (háng 4 – 5) bón 30% lượng NPK
– Đợt 4: Bón thúc quả (tháng 7 – 8) bón 30% lượng NPK
Với cam V2 (thu vào tết) bón thêm đợt tháng 9 – 10 mỗi gốc bón 1kg NPK 16.6.16 (chống nứt quả).
Ngoài ra, chúng ta có thể tham khảo một số quy chuẩn bón phân dựa vào các tiêu chí khác nhau theo các bảng dưới đây.
Bảng 1: Lượng phân bón theo tuổi cây
Năm tuổi (năm) N (g/cây) P2O5 (g/cây) K2O (g/cây)
1-3 50-150 500-100 60
4-6 200-250 150-200 120
7-9 300-400 250-300 180
Trên 10 400-800 350-400 240
Ghi chú: Tài liệu của GS. Trần Thế Tục.
Bảng 2: Bón phân theo sản lượng
Loại phân và lượng phân Năng suất trên 15 tấn/ha Năng suất trên 8 tấn/ha
N (kg/tấn quả) 7-8 11-12
P2O5 (kg/tấn quả) 7-8 11-12
K2O (kg/tấn quả) 8-10 10-12
– Đợt 1(khoảng tháng 11 – 12): Làm cỏ, tỉa cành, bón phân. Trong đó, bón phân được coi là yếu tố quan trọng nhất với công thức bón gồm: 100% phân hữu cơ ủ hoai + 100% phân NPK 5.10.3 + 100% vôi. Cách bón phân để đạt hiệu quả tối đa gồm: đào rãnh xung quanh tán, trộn đều và bón theo rãnh đào rồi dùng đất lấp kín phân.
– Đợt 2: Bón thúc đón hoa (tháng 1 – 2) bón 40% lượng NPK.
– Đợt 3: Bón thúc quả (háng 4 – 5) bón 30% lượng NPK
– Đợt 4: Bón thúc quả (tháng 7 – 8) bón 30% lượng NPK
Với cam V2 (thu vào tết) bón thêm đợt tháng 9 – 10 mỗi gốc bón 1kg NPK 16.6.16 (chống nứt quả).
Ngoài ra, chúng ta có thể tham khảo một số quy chuẩn bón phân dựa vào các tiêu chí khác nhau theo các bảng dưới đây.
Bảng 1: Lượng phân bón theo tuổi cây
Năm tuổi (năm) N (g/cây) P2O5 (g/cây) K2O (g/cây)
1-3 50-150 500-100 60
4-6 200-250 150-200 120
7-9 300-400 250-300 180
Trên 10 400-800 350-400 240
Ghi chú: Tài liệu của GS. Trần Thế Tục.
Bảng 2: Bón phân theo sản lượng
Loại phân và lượng phân Năng suất trên 15 tấn/ha Năng suất trên 8 tấn/ha
N (kg/tấn quả) 7-8 11-12
P2O5 (kg/tấn quả) 7-8 11-12
K2O (kg/tấn quả) 8-10 10-12
Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017
Kinh nghiệm trồng bưởi Da Xanh
Trồng bưởi da xanh chuyên hoặc trồng xen cùng một cây khác thì cũng cần ánh nắng 70%-80%. Mùa nắng phải đậy ủ gốc, giữ ẩm, tưới nước để cây không bị hóc; khi thiếu nước, cây không hấp thu dinh dưỡng tốt, khi nước mặn 0,3% không nên tưới lên gốc.
Đất trồng phải cao hơn hoặc bằng mực nước cao nhất hàng năm so với rằm tháng 10, rằm tháng chạp âm lịch; đất tơi xốp, không bị phèn. Đất ít cát pha sét, pha thịt; đất bờ dừa lâu năm; đất có trùn cư trú tức là có cả vi sinh vật tồn tại. Đất có cỏ hôi, cỏ lồng vực, cỏ đuôi chồn, rau trai mọc thì dễ trồng bưởi.
Trồng bưởi da xanh phải chọn giống kỹ: ăn ngọt, giống có tép đỏ hồng, ráo nước nhưng không khô, lột vỏ và tép tróc hoàn toàn, rất ít hạt hoặc không hạt, vỏ mỏng, trái tròn; đặc biệt không mua giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc.
Muốn vậy, chúng ta không chọn cây giống của bưởi da xanh khi cho trái có tép múi không ngọt, chua lẫn đắng, quá khô nước, nhất là ở hai đầu múi bưởi, màu quá đỏ hoặc hơi trắng, vỏ quá dày, hình trái lê, lột tép bưởi khó tróc. Vì giống bưởi da xanh hiện nay có những dòng chưa được thuần; có trái hình quả lê, trái hình cầu, có cây hai dạng trái, khi bán trái chọn ra phân loại cũng khó; mắt thường không thể phân biệt rõ sự khác nhau giữa dòng này với dòng khác.
Ngoài ra, trồng từ cây chiết nhánh, cây gốc ghép; kỹ thuật canh tác, chăm sóc, bón phân khác nhau cũng làm cho các đặc tính về năng suất, phẩm chất, hình dáng bị ảnh hưởng. Vì thế, thời gian qua, trong tỉnh đã có những nghiên cứu để tìm ra dòng vô tính, chọn giống bưởi da xanh ngon, đó là đề tài “Tuyển chọn, xác định dòng vô tính đặc trưng phục vụ xây dựng thương hiệu bưởi da xanh của tỉnh Bến Tre” do Thạc sĩ Võ Hoài Chân (Trung tâm Giống nông nghiệp Bến Tre chủ nhiệm). Đề tài được nghiên cứu độ prix, tỷ lệ nẩy mầm, điện di protein, điện di DNA, đánh giá độ tróc vỏ, tróc tép, bề dày vỏ trái, sự có hạt và không hạt.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các cây bưởi da xanh của 5 hộ nhà vườn: ông Phạm Nguyễn Trãi, anh Trường, ông Hai Hoa, thầy giáo Phúc, thầy giáo Hiệp, thì cây bưởi của ông Hai Hoa (xã Sơn Định – Chợ Lách), thầy giáo Phúc (xã Mỹ Thạnh An – TP. Bến Tre) hạt phấn hoa bưởi không nẩy mầm chiếm tỷ lệ 80%-83% nên trái bưởi các vườn này luôn luôn ít hạt hoặc không hạt. Vì vậy, cây bưởi da xanh của ông Hai Hoa và thầy giáo Phúc đã trên 20 năm tuổi, năng suất cao, chất lượng ngon, gần như không hạt. Do hạt phấn hoa bưởi da xanh tự bất dung hợp khi thụ phấn sẽ cho ra trái bưởi không hạt hoặc ít hạt với điều kiện không có thụ phấn chéo với các cây cùng họ, vì thế, bà con nông dân nên bao từng hoa bưởi trước khi thụ phấn, hoặc chỉ trồng chuyên bưởi da xanh, không trồng xen cam, chanh, quýt, bưởi khác trên một vườn.
Mặt khác, nên xới gốc bón phân hữu cơ, vô cơ đan xen 3-4 lần/năm. Khoảng tháng 2-3 dương lịch, bón phân xong, bồi bùn, không bồi lúc nước mặn. Cây trên 3 tuổi nên bón phân hữu cơ vi sinh trộn với phân chuồng 3-4 lần/năm, mỗi lần 5-10kg, bón riêng mỗi gốc 1kg vôi để dễ đậu trái và ngọt. Mỗi cây bón từ 0,8-2kg u-rê, 1,5-3,5kg lân; 0,6-1,5kg clorua kali chia 3-4 lần/năm.Vì bưởi mang trái thường xuyên trên cây nên có thể sau thu hoạch rộ bón: 25% đạm, 25% lân; thấy khi trái ít cần thúc ra hoa bón: 25% đạm, 50% lân, 30% clorua kali; khi đậu trái bón 50% đạm, 25% lân, 50% clorua kali; trước thu hoạch bón 20% clorua kali còn lại.
Chú ý cây bưởi nhánh trồng nghiêng, lúc nhỏ khi mọc tượt non có thể cắt bỏ cành cũ (già), để tượt non mọc lên khoảng 0,5-0,7m cắt ngọn để thân mọc các chồi mới, sau đó dùng dây nhựa kéo đọt uốn ra “tứ diện”. Cây bưởi sẽ phát triển cho trái đồng đều, cao khoảng 2-2,5m, dễ dàng chăm sóc và thu hoạch.
Đất trồng phải cao hơn hoặc bằng mực nước cao nhất hàng năm so với rằm tháng 10, rằm tháng chạp âm lịch; đất tơi xốp, không bị phèn. Đất ít cát pha sét, pha thịt; đất bờ dừa lâu năm; đất có trùn cư trú tức là có cả vi sinh vật tồn tại. Đất có cỏ hôi, cỏ lồng vực, cỏ đuôi chồn, rau trai mọc thì dễ trồng bưởi.
Trồng bưởi da xanh phải chọn giống kỹ: ăn ngọt, giống có tép đỏ hồng, ráo nước nhưng không khô, lột vỏ và tép tróc hoàn toàn, rất ít hạt hoặc không hạt, vỏ mỏng, trái tròn; đặc biệt không mua giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc.
Muốn vậy, chúng ta không chọn cây giống của bưởi da xanh khi cho trái có tép múi không ngọt, chua lẫn đắng, quá khô nước, nhất là ở hai đầu múi bưởi, màu quá đỏ hoặc hơi trắng, vỏ quá dày, hình trái lê, lột tép bưởi khó tróc. Vì giống bưởi da xanh hiện nay có những dòng chưa được thuần; có trái hình quả lê, trái hình cầu, có cây hai dạng trái, khi bán trái chọn ra phân loại cũng khó; mắt thường không thể phân biệt rõ sự khác nhau giữa dòng này với dòng khác.
Ngoài ra, trồng từ cây chiết nhánh, cây gốc ghép; kỹ thuật canh tác, chăm sóc, bón phân khác nhau cũng làm cho các đặc tính về năng suất, phẩm chất, hình dáng bị ảnh hưởng. Vì thế, thời gian qua, trong tỉnh đã có những nghiên cứu để tìm ra dòng vô tính, chọn giống bưởi da xanh ngon, đó là đề tài “Tuyển chọn, xác định dòng vô tính đặc trưng phục vụ xây dựng thương hiệu bưởi da xanh của tỉnh Bến Tre” do Thạc sĩ Võ Hoài Chân (Trung tâm Giống nông nghiệp Bến Tre chủ nhiệm). Đề tài được nghiên cứu độ prix, tỷ lệ nẩy mầm, điện di protein, điện di DNA, đánh giá độ tróc vỏ, tróc tép, bề dày vỏ trái, sự có hạt và không hạt.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các cây bưởi da xanh của 5 hộ nhà vườn: ông Phạm Nguyễn Trãi, anh Trường, ông Hai Hoa, thầy giáo Phúc, thầy giáo Hiệp, thì cây bưởi của ông Hai Hoa (xã Sơn Định – Chợ Lách), thầy giáo Phúc (xã Mỹ Thạnh An – TP. Bến Tre) hạt phấn hoa bưởi không nẩy mầm chiếm tỷ lệ 80%-83% nên trái bưởi các vườn này luôn luôn ít hạt hoặc không hạt. Vì vậy, cây bưởi da xanh của ông Hai Hoa và thầy giáo Phúc đã trên 20 năm tuổi, năng suất cao, chất lượng ngon, gần như không hạt. Do hạt phấn hoa bưởi da xanh tự bất dung hợp khi thụ phấn sẽ cho ra trái bưởi không hạt hoặc ít hạt với điều kiện không có thụ phấn chéo với các cây cùng họ, vì thế, bà con nông dân nên bao từng hoa bưởi trước khi thụ phấn, hoặc chỉ trồng chuyên bưởi da xanh, không trồng xen cam, chanh, quýt, bưởi khác trên một vườn.
Mặt khác, nên xới gốc bón phân hữu cơ, vô cơ đan xen 3-4 lần/năm. Khoảng tháng 2-3 dương lịch, bón phân xong, bồi bùn, không bồi lúc nước mặn. Cây trên 3 tuổi nên bón phân hữu cơ vi sinh trộn với phân chuồng 3-4 lần/năm, mỗi lần 5-10kg, bón riêng mỗi gốc 1kg vôi để dễ đậu trái và ngọt. Mỗi cây bón từ 0,8-2kg u-rê, 1,5-3,5kg lân; 0,6-1,5kg clorua kali chia 3-4 lần/năm.Vì bưởi mang trái thường xuyên trên cây nên có thể sau thu hoạch rộ bón: 25% đạm, 25% lân; thấy khi trái ít cần thúc ra hoa bón: 25% đạm, 50% lân, 30% clorua kali; khi đậu trái bón 50% đạm, 25% lân, 50% clorua kali; trước thu hoạch bón 20% clorua kali còn lại.
Chú ý cây bưởi nhánh trồng nghiêng, lúc nhỏ khi mọc tượt non có thể cắt bỏ cành cũ (già), để tượt non mọc lên khoảng 0,5-0,7m cắt ngọn để thân mọc các chồi mới, sau đó dùng dây nhựa kéo đọt uốn ra “tứ diện”. Cây bưởi sẽ phát triển cho trái đồng đều, cao khoảng 2-2,5m, dễ dàng chăm sóc và thu hoạch.






