Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017
Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017
Kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch Măng Cụt
Cây Măng Cụt có thể sinh trưởng ở nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là đất sét giàu hữu cơ, tầng canh tác dầy, thoát nước tốt và gần nguồn nước tưới.
I. GIỚI THIỆU
Măng cụt thuộc cây ăn quả nhiệt đới được trồng nhiều ở Thái Lan, Mã lai, Phi luật tân, Indonêsia và Việt nam. Măng cụt là loại trái cây được nhiều người ưa chuộng và dược xem như là nữ hoàng của cây ăn trái nhiệt đới bởi lẽ dáng trái đẹp và chứa nhiều chất bổ dưỡng. Giá bán tại Nhật lên đến 3USD/ trái
(trọng lượng > 80g), còn ở Thái lan 2USD/ Kg. Ở Thái lan năm 1990 đã xuất khẩu được 1.482 tấn trái thì đếùn 1993 Thái xuất khẩu dến 2.652 tấn, diện tích trồng măng cụt ở Thái năm 1994 là 34.127 ha. Tuy vậy sản xuất trái đúng tiêu chuẩn mới là quan trọng, nghĩa là trái phải có trọng lượng
> 80g vỏ trái đẹp và trái không bị sượng cứng. Hiện nay măng cụt ở Việt nam chỉ cho trái khi cây trồng 8-10 tuổi hay lâu hơn nữa tuỳ vào phương pháp chăm sóc. sau đây là quy trình trồng và chăm sóc cây măng cụt nhằm mục đích cây cho trái vào lúc đạt 4-5 tuổi đối với cây ghép, 5-6 năm tuổi đối với cây trồng từ hạt ( cây con 2 năm tuổi trong vườn ươm) và nhiều trái có trọng lượng trên 80g để có thể xuất khẩu.
II. YÊU CẦU SINH THÁI:
1. Lượng mưa:
Cây măng cụt không thể sinh trưởng phát triển tốt ở vùng không quá khô hay quá ẩm. Cây yêu cầu lượng mưa thấp nhất phải là 1270mm/ năm.
2. Nhiệt độ- ẩm độ:
Nhiệt độ thích hợp cho cây măng cụt phát triển ở vào khoảng 25-35oC và ẩm độ không khí thấp nhất là 80%
3. Che bóng:
Trong những năm đầu trồng ra ruộng sản xuất cây măng cụt cần phải được che bóng để giảm bớt ánh nắng mặt trời trực tiếp đến với cây. Nếu không ánh sáng mặt trời có thể làm hư hại đỉnh sinh trưởng cây chậm phát triển.
I. GIỚI THIỆU
Măng cụt thuộc cây ăn quả nhiệt đới được trồng nhiều ở Thái Lan, Mã lai, Phi luật tân, Indonêsia và Việt nam. Măng cụt là loại trái cây được nhiều người ưa chuộng và dược xem như là nữ hoàng của cây ăn trái nhiệt đới bởi lẽ dáng trái đẹp và chứa nhiều chất bổ dưỡng. Giá bán tại Nhật lên đến 3USD/ trái
(trọng lượng > 80g), còn ở Thái lan 2USD/ Kg. Ở Thái lan năm 1990 đã xuất khẩu được 1.482 tấn trái thì đếùn 1993 Thái xuất khẩu dến 2.652 tấn, diện tích trồng măng cụt ở Thái năm 1994 là 34.127 ha. Tuy vậy sản xuất trái đúng tiêu chuẩn mới là quan trọng, nghĩa là trái phải có trọng lượng
> 80g vỏ trái đẹp và trái không bị sượng cứng. Hiện nay măng cụt ở Việt nam chỉ cho trái khi cây trồng 8-10 tuổi hay lâu hơn nữa tuỳ vào phương pháp chăm sóc. sau đây là quy trình trồng và chăm sóc cây măng cụt nhằm mục đích cây cho trái vào lúc đạt 4-5 tuổi đối với cây ghép, 5-6 năm tuổi đối với cây trồng từ hạt ( cây con 2 năm tuổi trong vườn ươm) và nhiều trái có trọng lượng trên 80g để có thể xuất khẩu.
II. YÊU CẦU SINH THÁI:
1. Lượng mưa:
Cây măng cụt không thể sinh trưởng phát triển tốt ở vùng không quá khô hay quá ẩm. Cây yêu cầu lượng mưa thấp nhất phải là 1270mm/ năm.
2. Nhiệt độ- ẩm độ:
Nhiệt độ thích hợp cho cây măng cụt phát triển ở vào khoảng 25-35oC và ẩm độ không khí thấp nhất là 80%
3. Che bóng:
Trong những năm đầu trồng ra ruộng sản xuất cây măng cụt cần phải được che bóng để giảm bớt ánh nắng mặt trời trực tiếp đến với cây. Nếu không ánh sáng mặt trời có thể làm hư hại đỉnh sinh trưởng cây chậm phát triển.
Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017
Trồng Chuối để năng suất cao
Cây Chuối có tên khoa học là Musa sapientum L., thuộc họ Musaceae. Chuối là loại cây ăn quả nhiệt đới, ngắn ngày, dễ trồng và cho sản lượng khá cao, trung bình có thể đạt năng suất 20-30 tấn/ha. Hiện nay, trên thế giới, nước đạt năng suất chuối cao nhất là Goatemala 100 tấn/ha. Chuối có giá trị kinh tế khá lớn và là mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước.
Ở nước ta, khí hậu bốn mùa đều phù hợp cho chuối phát triển, từ Bắc đến Nam, đồng bằng cũng như miền núi, ở đâu và mùa nào cũng có chuối. Chuối đối với người Việt Nam là rau, là quả, là lương thực, thực phẩm. Sản lượng chuối ở ta hàng năm cũng khá, ngoài việc tiêu thụ nội địa, chúng ta còn xuất khẩu một lượng khá lớn. Tuy vậy, so với nhiều nước xuất khẩu chuối thì năng suất trồng chuối nước ta còn thấp. Vì vậy, việc giúp bà con nông dân nắm được những kinh nghiệm trong kỹ thuật trồng chuối, nhằm nâng cao năng suất là hết sức cần thiết.
* Điều kiện sinh thái của cây chuối:
– Nhu cầu về nhiệt độ: Chuối sinh trưởng và phát triển thuận lợi trong phạm vi 25-35oC. Khi nhiệt độ giảm đến 10oC thì quả chuối nhỏ, phẩm chất kém, sinh trưởng chậm. Chuối sợ rét và sương muối, khi gặp sương muối kéo dài lá chuối sẽ xám lại và héo khô. Như vậy, ở nước ta, nhất là các tỉnh miền Nam, Nam Trung bộ, bình quân nhiệt độ hàng năm lớn hơn 24oC, nên có lượng nhiệt rất tốt cho chuối phát triển.
– Nhu cầu về nước: Hàm lượng nước trong các bộ phận cây chuối rất cao, trong thân già 92,4%, trong rễ 96%, trong lá 82,6% và trong quả 96%. Độ bốc hơi của lá rất lớn, dưới ánh nắng mặt trời, sức tiêu hao nước của chuối từ 40-50mg/dm2/phút. Với giống chuối tiêu lùn, cần từ 15-20 lít nước/ngày tuỳ theo trời râm hay trời nắng. Chú ý vào mùa đông ở nước ta thường khô hanh, ít mưa nên cần có biện pháp tưới ẩm để cung cấp đủ nước cho chuối.
– Nhu cầu về ánh sáng: Chuối có khả năng thích ứng trong phạm vi cường độ ánh sáng tương đối rộng. Cho nên lượng ánh sáng ở điều kiện nước ta cũng cho phép cây chuối sinh trưởng và phát triển tốt.
* Nên trồng chuối từ loại chồi nào:
Hình thức nhân giống chuối chủ yếu là nhân giống vô tính. Người ta thường dùng loại chồi con để trồng. Chồi con được hình thành từ những mầm ngủ mọc trên thân ngầm của chuối, thường có 2 loại chồi con: chồi con đuôi chiên và chồi con lá rộng. Theo nhiều kinh nghiệm, loại chồi con đuôi chiên được sử dụng trồng tốt nhất. Nó được sinh ra khoảng tháng 4 đến tháng 6. Trong điều kiện đầy đủ ánh sáng, nhiệt độ thích hợp, loại chồi non này sinh ra rất nhanh, tốc độ sinh trưởng rất mạnh. Chồi này rất sung sức, khi trồng mau bén rễ, tốc độ hồi sinh nhanh, sinh trưởng mạnh và mau ra buồng, sản lượng cao.
Ngoài chồi con, ở một số nơi đã chọn củ chuối (thân ngầm) để nhân giống, ở nước ta chưa áp dụng nhiều nhưng ở Trung Quốc, các nước châu Phi, châu Mỹ đã áp dụng nhiều phương pháp trồng bằng củ chuối. Theo họ, phương pháp này có lợi ở những mặt: dễ vận chuyển, con giống mọc ra từ củ tương đối đồng đều nên khi trồng dễ chăm sóc và thu hoạch, hệ số nhân giống cũng tương đối cao vì khi ta bổ một củ ra đem trồng có thể đạt được từ 4 đến 6 cây con.
* Yêu cầu về loại đất trồng chuối:
Chuối là loại cây dễ trồng, yêu cầu về đất không quá nghiêm khắc. Tốt nhất đối với chuối là đất thịt nhẹ, đất pha cát, đất phù sa (tốt hơn cả), đất thoáng có cấu tượng tốt và độ xốp cao. Về hóa tính đất, chuối rất cần các chất khoáng trong đất như N, P, K, Ca, Mg, trong đó hai yếu tố chính là N và K. Kết quả phân tích hàm lượng các chất khoáng trong giống chuối tiêu lùn cho thấy:
Chất khoáng Hàm lượng (kg/tấn quả tươi)
N
P
K
Ca
Mg 1,0 – 2,0
0,18 – 0,22
4,3 – 4,9
0,09 – 0,21
0,11 – 0,32
Chuối mọc bình thường trong đất có pH từ 4,5-8, tốt nhất trong khoảng 6-7,5. Trường hợp đất quá chua hoặc quá kiềm có thể gây ra hiện tượng thiếu vi lượng trong đất, ảnh hưởng đến sinh trưởng của chuối.
* Mật độ trồng chuối thích hợp:
Mật độ trồng dày hay thưa phụ thuộc vào giống chuối. Đối với giống càng thấp cây, tán lá hẹp như chuối tiêu lùn, chuối ngự có thể trồng dày, còn các loại như chuối tiêu vừa, chuối tiêu cao, chuối lá, chuối gòn,…lại trồng thưa hơn. Ở các vườn chuối nước ta, mật độ trồng phổ biến khoảng trên dưới 1.000 cây/ha (với chuối tiêu vừa và lùn), khoảng cách trồng: 3m x 3m (1100 cây/ha) hoặc 3m x 2,5m (1.300 cây/ha). Tuy nhiên, so với các nước khác, mật độ trồng nước ta quá thưa nên năng suất thấp hơn nhiều. Theo nhiều kinh nghiệm cho biết, ở nước ta đối với giống chuối tiêu lùn, có thể trồng 20.00-2.500 cây/ha. Tuy nhiên, khi trồng mật độ dày cần phải chú ý: Chọn cây con thật đồng đều nhằm tránh hiện tượng lấn át, tranh giành dinh dưỡng và ánh sáng giữa các cây; chú ý bón phân đúng mức và phòng tránh kịp thời bệnh đốm lá cho cây; trồng dày hợp lý có tác dụng tốt cho vườn chuối, vườn sớm được che bóng, ít cỏ dại, tạo điều kiện nóng ẩm phù hợp với cây chuối và tốt hơn cả là tăng năng suất chuối.
Ở nước ta, khí hậu bốn mùa đều phù hợp cho chuối phát triển, từ Bắc đến Nam, đồng bằng cũng như miền núi, ở đâu và mùa nào cũng có chuối. Chuối đối với người Việt Nam là rau, là quả, là lương thực, thực phẩm. Sản lượng chuối ở ta hàng năm cũng khá, ngoài việc tiêu thụ nội địa, chúng ta còn xuất khẩu một lượng khá lớn. Tuy vậy, so với nhiều nước xuất khẩu chuối thì năng suất trồng chuối nước ta còn thấp. Vì vậy, việc giúp bà con nông dân nắm được những kinh nghiệm trong kỹ thuật trồng chuối, nhằm nâng cao năng suất là hết sức cần thiết.
* Điều kiện sinh thái của cây chuối:
– Nhu cầu về nhiệt độ: Chuối sinh trưởng và phát triển thuận lợi trong phạm vi 25-35oC. Khi nhiệt độ giảm đến 10oC thì quả chuối nhỏ, phẩm chất kém, sinh trưởng chậm. Chuối sợ rét và sương muối, khi gặp sương muối kéo dài lá chuối sẽ xám lại và héo khô. Như vậy, ở nước ta, nhất là các tỉnh miền Nam, Nam Trung bộ, bình quân nhiệt độ hàng năm lớn hơn 24oC, nên có lượng nhiệt rất tốt cho chuối phát triển.
– Nhu cầu về nước: Hàm lượng nước trong các bộ phận cây chuối rất cao, trong thân già 92,4%, trong rễ 96%, trong lá 82,6% và trong quả 96%. Độ bốc hơi của lá rất lớn, dưới ánh nắng mặt trời, sức tiêu hao nước của chuối từ 40-50mg/dm2/phút. Với giống chuối tiêu lùn, cần từ 15-20 lít nước/ngày tuỳ theo trời râm hay trời nắng. Chú ý vào mùa đông ở nước ta thường khô hanh, ít mưa nên cần có biện pháp tưới ẩm để cung cấp đủ nước cho chuối.
– Nhu cầu về ánh sáng: Chuối có khả năng thích ứng trong phạm vi cường độ ánh sáng tương đối rộng. Cho nên lượng ánh sáng ở điều kiện nước ta cũng cho phép cây chuối sinh trưởng và phát triển tốt.
* Nên trồng chuối từ loại chồi nào:
Hình thức nhân giống chuối chủ yếu là nhân giống vô tính. Người ta thường dùng loại chồi con để trồng. Chồi con được hình thành từ những mầm ngủ mọc trên thân ngầm của chuối, thường có 2 loại chồi con: chồi con đuôi chiên và chồi con lá rộng. Theo nhiều kinh nghiệm, loại chồi con đuôi chiên được sử dụng trồng tốt nhất. Nó được sinh ra khoảng tháng 4 đến tháng 6. Trong điều kiện đầy đủ ánh sáng, nhiệt độ thích hợp, loại chồi non này sinh ra rất nhanh, tốc độ sinh trưởng rất mạnh. Chồi này rất sung sức, khi trồng mau bén rễ, tốc độ hồi sinh nhanh, sinh trưởng mạnh và mau ra buồng, sản lượng cao.
Ngoài chồi con, ở một số nơi đã chọn củ chuối (thân ngầm) để nhân giống, ở nước ta chưa áp dụng nhiều nhưng ở Trung Quốc, các nước châu Phi, châu Mỹ đã áp dụng nhiều phương pháp trồng bằng củ chuối. Theo họ, phương pháp này có lợi ở những mặt: dễ vận chuyển, con giống mọc ra từ củ tương đối đồng đều nên khi trồng dễ chăm sóc và thu hoạch, hệ số nhân giống cũng tương đối cao vì khi ta bổ một củ ra đem trồng có thể đạt được từ 4 đến 6 cây con.
* Yêu cầu về loại đất trồng chuối:
Chuối là loại cây dễ trồng, yêu cầu về đất không quá nghiêm khắc. Tốt nhất đối với chuối là đất thịt nhẹ, đất pha cát, đất phù sa (tốt hơn cả), đất thoáng có cấu tượng tốt và độ xốp cao. Về hóa tính đất, chuối rất cần các chất khoáng trong đất như N, P, K, Ca, Mg, trong đó hai yếu tố chính là N và K. Kết quả phân tích hàm lượng các chất khoáng trong giống chuối tiêu lùn cho thấy:
Chất khoáng Hàm lượng (kg/tấn quả tươi)
N
P
K
Ca
Mg 1,0 – 2,0
0,18 – 0,22
4,3 – 4,9
0,09 – 0,21
0,11 – 0,32
Chuối mọc bình thường trong đất có pH từ 4,5-8, tốt nhất trong khoảng 6-7,5. Trường hợp đất quá chua hoặc quá kiềm có thể gây ra hiện tượng thiếu vi lượng trong đất, ảnh hưởng đến sinh trưởng của chuối.
* Mật độ trồng chuối thích hợp:
Mật độ trồng dày hay thưa phụ thuộc vào giống chuối. Đối với giống càng thấp cây, tán lá hẹp như chuối tiêu lùn, chuối ngự có thể trồng dày, còn các loại như chuối tiêu vừa, chuối tiêu cao, chuối lá, chuối gòn,…lại trồng thưa hơn. Ở các vườn chuối nước ta, mật độ trồng phổ biến khoảng trên dưới 1.000 cây/ha (với chuối tiêu vừa và lùn), khoảng cách trồng: 3m x 3m (1100 cây/ha) hoặc 3m x 2,5m (1.300 cây/ha). Tuy nhiên, so với các nước khác, mật độ trồng nước ta quá thưa nên năng suất thấp hơn nhiều. Theo nhiều kinh nghiệm cho biết, ở nước ta đối với giống chuối tiêu lùn, có thể trồng 20.00-2.500 cây/ha. Tuy nhiên, khi trồng mật độ dày cần phải chú ý: Chọn cây con thật đồng đều nhằm tránh hiện tượng lấn át, tranh giành dinh dưỡng và ánh sáng giữa các cây; chú ý bón phân đúng mức và phòng tránh kịp thời bệnh đốm lá cho cây; trồng dày hợp lý có tác dụng tốt cho vườn chuối, vườn sớm được che bóng, ít cỏ dại, tạo điều kiện nóng ẩm phù hợp với cây chuối và tốt hơn cả là tăng năng suất chuối.
Thứ Ba, 16 tháng 5, 2017
Kĩ thuật trồng Thanh Long đạt chuẩn xuất khẩu
Nhắc đến đặc sản trái cây ở Hưng Yên, người ta thường nghĩ ngay đến nhãn lồng, nhưng trong những năm gần đây, Hưng Yên còn có một trái cây đặc sản khác đó là chuối tiêu hồng.
Chuối tiêu hồng được Viện Nghiên cứu Rau quả nghiên cứu và tuyển chọn có chất lượng ngon, mùi thơm, màu đẹp, để lâu không bị nát nên thường được tiêu thụ vào dịp Tết Nguyên đán và xuất khẩu đem lại lợi ích kinh tế lớn. Tuy nhiên, cây chuối có nhu cầu dinh dưỡng cao nên sẽ làm đất nhanh bị bạc màu, cây nhanh bị tàn nếu không có chế độ phân bón đầy đủ và hợp lý. Chuối cần nhiều nhất là kali và đạm sau đó đến lân, ngoài ra cây cũng hút khá nhiều canxi, magiê, lưu huỳnh và nhiều chất vi lượng. Một số triệu trứng thiếu dinh dưỡng dễ phân biệt như sau:
– Đa lượng: Thiếu đạm (N) cây bị úa vàng đặc biệt các lá già, phiến lá có màu vàng xanh lợt, cuống và bẹ màu xanh hơi hồng. Khi thiếu nhiều cây sinh trưởng chậm, thân mảnh, lá nhỏ và chóng tàn, phân hóa mầm hoa kém, năng suất thấp; Thiếu lân (P2O5) lá già có màu xanh thẫm, sau chuyển sang xanh nhạt hoặc màu đồng thau. Mép lá xuất hiện những vết chết khô không liên tục ăn vào gân lá tạo thành hình răng cưa, vết khô lan nhanh làm lá héo nhanh và tàn sớm; Thiếu kali (K2O) xuất hiện các vệt màu nâu, nâu tím trên các rãnh của gân lá, sau đó toàn bộ mặt lá chuyển màu vàng óng, bắt đầu từ những lá già. Phiến lá bị rách, lá chuyển khô và bị gẫy gập xuống. Hiện tượng này lan dần từ lá già tới lá non làm cho cây chuối trụi lá dần, năng suất sụt giảm nghiêm trọng.
– Các trung lượng: Thiếu canxi (Ca) xuất hiện những vệt vàng hình răng cưa không liên tục ở đầu lá, sau chuyển vàng óng và đỏ nâu, gân lá dày lên, lá uốn cong, thiếu nặng làm lá búp bị nghẹt, vỏ quả nứt; thiếu magiê (Mg) xuất hiện những vệt màu trắng vàng dọc theo mép lá, mép lá úa vàng và khô nhanh, lá già xuất hiện trước; thiếu lưu huỳnh (S) làm gân phụ dày lên, lá uốn cong, mép lá gợn sóng, phiến lá xuất hiện nhiều đốm chấm tạo thành dải sọc.
– Một số vi lượng: Thiếu bo (B) làm lá bị cong một bên, lượn sóng, đầu lá bị xoắn lại, cây con ra nhiều nhưng sinh trưởng bị đình trệ; Thiếu mangan (Mn) xuất hiện úa vàng từ lá thứ 2 đến lá thứ 4 sau lan dần ra các lá khác, vệt úa vàng xen kẽ những vệt xanh tạo thành hình răng lược; Thiếu đồng (Cu) làm bẹ và lá cây bị úa vàng. Mép các lá già xuất hiện vệt chết khô ở mép lá, sinh trưởng của cây bị chậm lại, lá bị rũ xuống, số lá giảm…
Cách bón phân cho chuối:
– Bón lót trước khi trồng: 10-15kg phân hữu cơ + 1-2kg lân cho mỗi hố trồng.
– Tưới thúc: Định kỳ 15 ngày tưới một lần bằng cách hòa 50-100gam NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu trong 10-15 lít nước. Bắt đầu tưới sau trồng 10 ngày và khi được 2 tháng thì chuyển qua bón vào đất.
– Bón thúc: Sau trồng 2 tháng bón phân NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu, lượng bón 30-50 gam/cây/lần.
– Sau trồng 3-4 tháng: 100-150kg NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu/cây.
Từ tháng thứ 5 trở đi tới khi thu hoạch lần đầu, mỗi tháng bón một lần bằng phân NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu. Lượng bón 200-300 gam/cây, bón rải quanh gốc cây.
– Với chuối đã cho thu hoạch, đã mọc thành bụi (2-5 cây) lượng bón ở các thời kỳ như sau:
+ Sau khi thu hoạch: Đào bỏ ngay cây mẹ và bón cho mỗi bụi 5-10kg phân chuồng + 0,5-1,0kg NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu.
+ Trước khi chuối trổ hoa: Bón 0,5-1kg NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu/bụi.
+ Sau khi trổ hoa: Bón định kỳ 1-1,5 tháng/lần bằng phân NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu. Lượng bón 0,5-0,75 kg/bụi/lần.
Chuối tiêu hồng được Viện Nghiên cứu Rau quả nghiên cứu và tuyển chọn có chất lượng ngon, mùi thơm, màu đẹp, để lâu không bị nát nên thường được tiêu thụ vào dịp Tết Nguyên đán và xuất khẩu đem lại lợi ích kinh tế lớn. Tuy nhiên, cây chuối có nhu cầu dinh dưỡng cao nên sẽ làm đất nhanh bị bạc màu, cây nhanh bị tàn nếu không có chế độ phân bón đầy đủ và hợp lý. Chuối cần nhiều nhất là kali và đạm sau đó đến lân, ngoài ra cây cũng hút khá nhiều canxi, magiê, lưu huỳnh và nhiều chất vi lượng. Một số triệu trứng thiếu dinh dưỡng dễ phân biệt như sau:
– Đa lượng: Thiếu đạm (N) cây bị úa vàng đặc biệt các lá già, phiến lá có màu vàng xanh lợt, cuống và bẹ màu xanh hơi hồng. Khi thiếu nhiều cây sinh trưởng chậm, thân mảnh, lá nhỏ và chóng tàn, phân hóa mầm hoa kém, năng suất thấp; Thiếu lân (P2O5) lá già có màu xanh thẫm, sau chuyển sang xanh nhạt hoặc màu đồng thau. Mép lá xuất hiện những vết chết khô không liên tục ăn vào gân lá tạo thành hình răng cưa, vết khô lan nhanh làm lá héo nhanh và tàn sớm; Thiếu kali (K2O) xuất hiện các vệt màu nâu, nâu tím trên các rãnh của gân lá, sau đó toàn bộ mặt lá chuyển màu vàng óng, bắt đầu từ những lá già. Phiến lá bị rách, lá chuyển khô và bị gẫy gập xuống. Hiện tượng này lan dần từ lá già tới lá non làm cho cây chuối trụi lá dần, năng suất sụt giảm nghiêm trọng.
– Các trung lượng: Thiếu canxi (Ca) xuất hiện những vệt vàng hình răng cưa không liên tục ở đầu lá, sau chuyển vàng óng và đỏ nâu, gân lá dày lên, lá uốn cong, thiếu nặng làm lá búp bị nghẹt, vỏ quả nứt; thiếu magiê (Mg) xuất hiện những vệt màu trắng vàng dọc theo mép lá, mép lá úa vàng và khô nhanh, lá già xuất hiện trước; thiếu lưu huỳnh (S) làm gân phụ dày lên, lá uốn cong, mép lá gợn sóng, phiến lá xuất hiện nhiều đốm chấm tạo thành dải sọc.
– Một số vi lượng: Thiếu bo (B) làm lá bị cong một bên, lượn sóng, đầu lá bị xoắn lại, cây con ra nhiều nhưng sinh trưởng bị đình trệ; Thiếu mangan (Mn) xuất hiện úa vàng từ lá thứ 2 đến lá thứ 4 sau lan dần ra các lá khác, vệt úa vàng xen kẽ những vệt xanh tạo thành hình răng lược; Thiếu đồng (Cu) làm bẹ và lá cây bị úa vàng. Mép các lá già xuất hiện vệt chết khô ở mép lá, sinh trưởng của cây bị chậm lại, lá bị rũ xuống, số lá giảm…
Cách bón phân cho chuối:
– Bón lót trước khi trồng: 10-15kg phân hữu cơ + 1-2kg lân cho mỗi hố trồng.
– Tưới thúc: Định kỳ 15 ngày tưới một lần bằng cách hòa 50-100gam NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu trong 10-15 lít nước. Bắt đầu tưới sau trồng 10 ngày và khi được 2 tháng thì chuyển qua bón vào đất.
– Bón thúc: Sau trồng 2 tháng bón phân NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu, lượng bón 30-50 gam/cây/lần.
– Sau trồng 3-4 tháng: 100-150kg NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu/cây.
Từ tháng thứ 5 trở đi tới khi thu hoạch lần đầu, mỗi tháng bón một lần bằng phân NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu. Lượng bón 200-300 gam/cây, bón rải quanh gốc cây.
– Với chuối đã cho thu hoạch, đã mọc thành bụi (2-5 cây) lượng bón ở các thời kỳ như sau:
+ Sau khi thu hoạch: Đào bỏ ngay cây mẹ và bón cho mỗi bụi 5-10kg phân chuồng + 0,5-1,0kg NPK 20-20-15+TE Đầu Trâu.
+ Trước khi chuối trổ hoa: Bón 0,5-1kg NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu/bụi.
+ Sau khi trổ hoa: Bón định kỳ 1-1,5 tháng/lần bằng phân NPK 13-13-13+TE Đầu Trâu. Lượng bón 0,5-0,75 kg/bụi/lần.
Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017
Tỉa cành, tỉa hoa, tạo tán cây Thanh Long
Giống đu đủ Đai Loan là giống đu đủ mới được nhập vào trồng ở nước ta trong thời gian gần đây. Do có nhiều ưu điểm: cây thấp trung bình 1,5-2,5m, sinh trưởng khỏe, ít bị nhiễm bệnh khảm, có ti lệ cây cái cao… nên nhanh chóng được trồng phổ biến khắp cả nước. Ở miền Nam giống đu đủ Đài Loan (giống đu đủTrạng nguyên ) được trồng nhiều ở các tỉnh miền Đông và Tây Nam Bộ.
I. Kỹ thuật gieo ươm cây giống
– Ngâm ủ hạt giống: Chọn hạt giống có tỷ lệ nảy mầm cao, ngâm hạt vào nước, loại bỏ các hạt lép lửng, chỉ lấy các hạt chắc mẩy chìm dưới nước. Ngâm hạt trong nước ấm 3 sôi 2 lạnh trong 5 giờ rồi tiến hành ủ hạt trong bao tải đay ẩm. Thời gian ủ 4-5 ngày, hàng ngày nhặt các hạt nứt nanh nảy mầm mang gieo.
– Làm bầu gieo cây giống: Dùng túi nilon kích thước 12x7cm (có đục lỗ thoát nước), lấy đất phù sa hay thịt nhẹ, làm đất nhỏ kỹ, trộn phân chuồng hoai mục với tỷ lệ 3 đất 1 phân cho vào đầy túi. Mỗi bầu túi gieo một hạt, ấn nhẹ hạt vào trong bầu và phủ ít đất mịn lên trên. Gieo hạt xong cần tưới ẩm. Xếp các bầu cây vào khay, để ở nơi có mái che nắng mưa cho cây, nếu có điều kiện gieo trong nhà lưới là tốt nhất.
Tưới hàng ngày cho cây đủ ẩm bằng bình bơm, khi cây có 2-4 lá thật thì 2 ngày tưới 1 lần, điều chỉnh giàn che để cây con có đủ ánh sáng, cây sinh trưởng mới tốt, cây mọc thẳng và cứng cáp. Làm sạch cỏ và phòng trừ sâu bệnh hại cho cây con. Khi cây có 4-5 lá thật, cao 15-20cm có thể xuất vườn. Đu đủ Đài Loan cho năng suất cao và chất lượng quả rất tốt, song là cây giống lai F1 nên hạt không dùng để gieo làm giống được.
II. Kỹ thuật trồng
Tỉa cành tạo tán là giúp cho thanh long là tạo bộ tán, bộ khung cân đối hài hòa và đẹp mắt, cắt bỏ bớt những cành yếu, xấu và khả năng cho trái kém.
Thanh Long
Sau khi trồng, cần chọn lại để cành phát triển tốt và buộc áp sát vào cây trụ từ mặt đất cho tới giá đỡ.
Tỉa cành trên giá đỡ theo nguyên tắc, 1 cành chính (cành mẹ) để lại 1 – 2 cành con, phải chọn cành mạnh khoẻ, loại bỏ cành sâu bệnh, ốm yếu hay cành già không thể cho trái tốt, cành nằm khuất bên trong không nhận được ánh sáng.
Khi cành dài 1,2m – 1,5m phải bấm đọt cành giúp cành phát triển tốt và nhanh cho trái. Khoảng năm thứ năm trở đi sau mỗi vụ thu hoạch cần thường xuyên tỉa cành, tạo tán.
Tỉa cành và tạo tán giúp cây sinh trưởng mạnh cho năng suất cao, trái đẹp, to tròn và thời gian cho trái được kéo dài.
Còn khi nụ nhiều trên cành phải tỉa hoa, loại bỏ trái xấu và những trái phát triển kém có dấu vết sâu bệnh. Chỉ để 2 nụ trên mỗi cành, lưu ý hai nụ trên cùng một cành không nên ở gần nhau. Sau khi hoa nở 5 – 7 tiến hành tỉa trái, tốt nhất là 1 cành chỉ một trái phát triển tốt.
Có thể trồng đu đủ vụ xuân (tháng 3-4) hay vụ thu (tháng 9-10). Đu đủ sau trồng 2,5 tháng thì ra hoa, sau trồng 7 tháng thì cho thu hoạch quả xanh, thu hoạch quả chín thì sau 9 tháng.
Trồng đu đủ theo hố, kích thước dài/rộng/sâu là 60/60/30cm, khoảng cách trồng 2,5x2m (khoảng 2.000 cây/ha). Sau khi đào hố, tiến hành bón lót. Mỗi hố bón 10-15kg phân chuồng, 0,5kg lân, 0,2kg kali, 0,5kg vôi bột. Trộn đều tất cả phân với đất mặt rồi lấp đầy hố trồng.
Đặt bầu cây giữa hố, dùng dao sắc rạch nhẹ gỡ bỏ bầu nilon (không làm vỡ bầu), vun đất quanh bầu, nén chặt gốc và tưới đủ ẩm cho cây. Dùng rơm rạ hay bèo phủ giữ ẩm cho đất. Khi cây bén rễ sinh trưởng tốt, cắm cọc ghì cây để giữ cây khỏi đổ qua mưa gió bão, khi cây lớn nới dần dây buộc.
III. Chế độ chăm sóc
Bón thúc 3 lần trong năm đầu: lần 1 sau trồng 4-6 tuần, lần 2 khi cây ra hoa kết quả, lần 3 khi quả lớn. Mỗi lần bón 200g urê, 100g lân, 200g kali. Hoà toàn bộ phân vào nước, tưới xung quanh và cách gốc 30-40cm. Khi cây mang quả nặng cần cắm cọc chống gió bão cho đu đủ, cắt bỏ lá già gần gốc, khơi rãnh thoát nước chống úng cho cây; làm sạch cỏ dại, xới xáo cho đất thông thoáng. Mùa khô cần ủ rơm rạ quanh gốc giữ ẩm cho cây. Năm sau, cây đu đủ thường phát triển kém đi, chọn để lại những cây khoẻ, loại bỏ cây yếu kém và trồng thế bằng cây con mới. Chế độ chăm sóc năm sau không khác gì năm đầu.
Trong quá trình sinh trưởng, đu đủ có thể bị một số sâu hại như rệp sáp, bọ nhảy, bọ xít, nhện đỏ… phá. Có thể phun Decis 2,5 ND (nồng độ 0,1%), Trebon (1%) khi mật độ sâu hại cao. Các bệnh hại đu đủ như virus xoăn ngọn đốm vàng, bệnh phấn trắng, bệnh thán thư… Để phòng tránh bệnh nên thực hiện tốt luân canh cây trồng, chọn trồng giống kháng bệnh, bón cân đối NPK để cây khoẻ, chống chịu bệnh tốt. Phát hiện sớm bệnh để phun Daconil, Topsin hay Zineb, Mancozeb (đối với các bệnh nấm phấn trắng hay thán thư).
I. Kỹ thuật gieo ươm cây giống
– Ngâm ủ hạt giống: Chọn hạt giống có tỷ lệ nảy mầm cao, ngâm hạt vào nước, loại bỏ các hạt lép lửng, chỉ lấy các hạt chắc mẩy chìm dưới nước. Ngâm hạt trong nước ấm 3 sôi 2 lạnh trong 5 giờ rồi tiến hành ủ hạt trong bao tải đay ẩm. Thời gian ủ 4-5 ngày, hàng ngày nhặt các hạt nứt nanh nảy mầm mang gieo.
– Làm bầu gieo cây giống: Dùng túi nilon kích thước 12x7cm (có đục lỗ thoát nước), lấy đất phù sa hay thịt nhẹ, làm đất nhỏ kỹ, trộn phân chuồng hoai mục với tỷ lệ 3 đất 1 phân cho vào đầy túi. Mỗi bầu túi gieo một hạt, ấn nhẹ hạt vào trong bầu và phủ ít đất mịn lên trên. Gieo hạt xong cần tưới ẩm. Xếp các bầu cây vào khay, để ở nơi có mái che nắng mưa cho cây, nếu có điều kiện gieo trong nhà lưới là tốt nhất.
Tưới hàng ngày cho cây đủ ẩm bằng bình bơm, khi cây có 2-4 lá thật thì 2 ngày tưới 1 lần, điều chỉnh giàn che để cây con có đủ ánh sáng, cây sinh trưởng mới tốt, cây mọc thẳng và cứng cáp. Làm sạch cỏ và phòng trừ sâu bệnh hại cho cây con. Khi cây có 4-5 lá thật, cao 15-20cm có thể xuất vườn. Đu đủ Đài Loan cho năng suất cao và chất lượng quả rất tốt, song là cây giống lai F1 nên hạt không dùng để gieo làm giống được.
II. Kỹ thuật trồng
Tỉa cành tạo tán là giúp cho thanh long là tạo bộ tán, bộ khung cân đối hài hòa và đẹp mắt, cắt bỏ bớt những cành yếu, xấu và khả năng cho trái kém.
Thanh Long
Sau khi trồng, cần chọn lại để cành phát triển tốt và buộc áp sát vào cây trụ từ mặt đất cho tới giá đỡ.
Tỉa cành trên giá đỡ theo nguyên tắc, 1 cành chính (cành mẹ) để lại 1 – 2 cành con, phải chọn cành mạnh khoẻ, loại bỏ cành sâu bệnh, ốm yếu hay cành già không thể cho trái tốt, cành nằm khuất bên trong không nhận được ánh sáng.
Khi cành dài 1,2m – 1,5m phải bấm đọt cành giúp cành phát triển tốt và nhanh cho trái. Khoảng năm thứ năm trở đi sau mỗi vụ thu hoạch cần thường xuyên tỉa cành, tạo tán.
Tỉa cành và tạo tán giúp cây sinh trưởng mạnh cho năng suất cao, trái đẹp, to tròn và thời gian cho trái được kéo dài.
Còn khi nụ nhiều trên cành phải tỉa hoa, loại bỏ trái xấu và những trái phát triển kém có dấu vết sâu bệnh. Chỉ để 2 nụ trên mỗi cành, lưu ý hai nụ trên cùng một cành không nên ở gần nhau. Sau khi hoa nở 5 – 7 tiến hành tỉa trái, tốt nhất là 1 cành chỉ một trái phát triển tốt.
Có thể trồng đu đủ vụ xuân (tháng 3-4) hay vụ thu (tháng 9-10). Đu đủ sau trồng 2,5 tháng thì ra hoa, sau trồng 7 tháng thì cho thu hoạch quả xanh, thu hoạch quả chín thì sau 9 tháng.
Trồng đu đủ theo hố, kích thước dài/rộng/sâu là 60/60/30cm, khoảng cách trồng 2,5x2m (khoảng 2.000 cây/ha). Sau khi đào hố, tiến hành bón lót. Mỗi hố bón 10-15kg phân chuồng, 0,5kg lân, 0,2kg kali, 0,5kg vôi bột. Trộn đều tất cả phân với đất mặt rồi lấp đầy hố trồng.
Đặt bầu cây giữa hố, dùng dao sắc rạch nhẹ gỡ bỏ bầu nilon (không làm vỡ bầu), vun đất quanh bầu, nén chặt gốc và tưới đủ ẩm cho cây. Dùng rơm rạ hay bèo phủ giữ ẩm cho đất. Khi cây bén rễ sinh trưởng tốt, cắm cọc ghì cây để giữ cây khỏi đổ qua mưa gió bão, khi cây lớn nới dần dây buộc.
III. Chế độ chăm sóc
Bón thúc 3 lần trong năm đầu: lần 1 sau trồng 4-6 tuần, lần 2 khi cây ra hoa kết quả, lần 3 khi quả lớn. Mỗi lần bón 200g urê, 100g lân, 200g kali. Hoà toàn bộ phân vào nước, tưới xung quanh và cách gốc 30-40cm. Khi cây mang quả nặng cần cắm cọc chống gió bão cho đu đủ, cắt bỏ lá già gần gốc, khơi rãnh thoát nước chống úng cho cây; làm sạch cỏ dại, xới xáo cho đất thông thoáng. Mùa khô cần ủ rơm rạ quanh gốc giữ ẩm cho cây. Năm sau, cây đu đủ thường phát triển kém đi, chọn để lại những cây khoẻ, loại bỏ cây yếu kém và trồng thế bằng cây con mới. Chế độ chăm sóc năm sau không khác gì năm đầu.
Trong quá trình sinh trưởng, đu đủ có thể bị một số sâu hại như rệp sáp, bọ nhảy, bọ xít, nhện đỏ… phá. Có thể phun Decis 2,5 ND (nồng độ 0,1%), Trebon (1%) khi mật độ sâu hại cao. Các bệnh hại đu đủ như virus xoăn ngọn đốm vàng, bệnh phấn trắng, bệnh thán thư… Để phòng tránh bệnh nên thực hiện tốt luân canh cây trồng, chọn trồng giống kháng bệnh, bón cân đối NPK để cây khoẻ, chống chịu bệnh tốt. Phát hiện sớm bệnh để phun Daconil, Topsin hay Zineb, Mancozeb (đối với các bệnh nấm phấn trắng hay thán thư).
Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017
Quy trình bón phân ở cam Vinh
Với việc sử dụng loại phân NPK, sau khi thu hoạch, cam Vinh cần được chăm bón theo quy trình kỹ thuật tập trung vào 04 đợt sau đây:
– Đợt 1(khoảng tháng 11 – 12): Làm cỏ, tỉa cành, bón phân. Trong đó, bón phân được coi là yếu tố quan trọng nhất với công thức bón gồm: 100% phân hữu cơ ủ hoai + 100% phân NPK 5.10.3 + 100% vôi. Cách bón phân để đạt hiệu quả tối đa gồm: đào rãnh xung quanh tán, trộn đều và bón theo rãnh đào rồi dùng đất lấp kín phân.
– Đợt 2: Bón thúc đón hoa (tháng 1 – 2) bón 40% lượng NPK.
– Đợt 3: Bón thúc quả (háng 4 – 5) bón 30% lượng NPK
– Đợt 4: Bón thúc quả (tháng 7 – 8) bón 30% lượng NPK
Với cam V2 (thu vào tết) bón thêm đợt tháng 9 – 10 mỗi gốc bón 1kg NPK 16.6.16 (chống nứt quả).
Ngoài ra, chúng ta có thể tham khảo một số quy chuẩn bón phân dựa vào các tiêu chí khác nhau theo các bảng dưới đây.
Bảng 1: Lượng phân bón theo tuổi cây
Năm tuổi (năm) N (g/cây) P2O5 (g/cây) K2O (g/cây)
1-3 50-150 500-100 60
4-6 200-250 150-200 120
7-9 300-400 250-300 180
Trên 10 400-800 350-400 240
Ghi chú: Tài liệu của GS. Trần Thế Tục.
Bảng 2: Bón phân theo sản lượng
Loại phân và lượng phân Năng suất trên 15 tấn/ha Năng suất trên 8 tấn/ha
N (kg/tấn quả) 7-8 11-12
P2O5 (kg/tấn quả) 7-8 11-12
K2O (kg/tấn quả) 8-10 10-12
– Đợt 1(khoảng tháng 11 – 12): Làm cỏ, tỉa cành, bón phân. Trong đó, bón phân được coi là yếu tố quan trọng nhất với công thức bón gồm: 100% phân hữu cơ ủ hoai + 100% phân NPK 5.10.3 + 100% vôi. Cách bón phân để đạt hiệu quả tối đa gồm: đào rãnh xung quanh tán, trộn đều và bón theo rãnh đào rồi dùng đất lấp kín phân.
– Đợt 2: Bón thúc đón hoa (tháng 1 – 2) bón 40% lượng NPK.
– Đợt 3: Bón thúc quả (háng 4 – 5) bón 30% lượng NPK
– Đợt 4: Bón thúc quả (tháng 7 – 8) bón 30% lượng NPK
Với cam V2 (thu vào tết) bón thêm đợt tháng 9 – 10 mỗi gốc bón 1kg NPK 16.6.16 (chống nứt quả).
Ngoài ra, chúng ta có thể tham khảo một số quy chuẩn bón phân dựa vào các tiêu chí khác nhau theo các bảng dưới đây.
Bảng 1: Lượng phân bón theo tuổi cây
Năm tuổi (năm) N (g/cây) P2O5 (g/cây) K2O (g/cây)
1-3 50-150 500-100 60
4-6 200-250 150-200 120
7-9 300-400 250-300 180
Trên 10 400-800 350-400 240
Ghi chú: Tài liệu của GS. Trần Thế Tục.
Bảng 2: Bón phân theo sản lượng
Loại phân và lượng phân Năng suất trên 15 tấn/ha Năng suất trên 8 tấn/ha
N (kg/tấn quả) 7-8 11-12
P2O5 (kg/tấn quả) 7-8 11-12
K2O (kg/tấn quả) 8-10 10-12
Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017
Kinh nghiệm trồng bưởi Da Xanh
Trồng bưởi da xanh chuyên hoặc trồng xen cùng một cây khác thì cũng cần ánh nắng 70%-80%. Mùa nắng phải đậy ủ gốc, giữ ẩm, tưới nước để cây không bị hóc; khi thiếu nước, cây không hấp thu dinh dưỡng tốt, khi nước mặn 0,3% không nên tưới lên gốc.
Đất trồng phải cao hơn hoặc bằng mực nước cao nhất hàng năm so với rằm tháng 10, rằm tháng chạp âm lịch; đất tơi xốp, không bị phèn. Đất ít cát pha sét, pha thịt; đất bờ dừa lâu năm; đất có trùn cư trú tức là có cả vi sinh vật tồn tại. Đất có cỏ hôi, cỏ lồng vực, cỏ đuôi chồn, rau trai mọc thì dễ trồng bưởi.
Trồng bưởi da xanh phải chọn giống kỹ: ăn ngọt, giống có tép đỏ hồng, ráo nước nhưng không khô, lột vỏ và tép tróc hoàn toàn, rất ít hạt hoặc không hạt, vỏ mỏng, trái tròn; đặc biệt không mua giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc.
Muốn vậy, chúng ta không chọn cây giống của bưởi da xanh khi cho trái có tép múi không ngọt, chua lẫn đắng, quá khô nước, nhất là ở hai đầu múi bưởi, màu quá đỏ hoặc hơi trắng, vỏ quá dày, hình trái lê, lột tép bưởi khó tróc. Vì giống bưởi da xanh hiện nay có những dòng chưa được thuần; có trái hình quả lê, trái hình cầu, có cây hai dạng trái, khi bán trái chọn ra phân loại cũng khó; mắt thường không thể phân biệt rõ sự khác nhau giữa dòng này với dòng khác.
Ngoài ra, trồng từ cây chiết nhánh, cây gốc ghép; kỹ thuật canh tác, chăm sóc, bón phân khác nhau cũng làm cho các đặc tính về năng suất, phẩm chất, hình dáng bị ảnh hưởng. Vì thế, thời gian qua, trong tỉnh đã có những nghiên cứu để tìm ra dòng vô tính, chọn giống bưởi da xanh ngon, đó là đề tài “Tuyển chọn, xác định dòng vô tính đặc trưng phục vụ xây dựng thương hiệu bưởi da xanh của tỉnh Bến Tre” do Thạc sĩ Võ Hoài Chân (Trung tâm Giống nông nghiệp Bến Tre chủ nhiệm). Đề tài được nghiên cứu độ prix, tỷ lệ nẩy mầm, điện di protein, điện di DNA, đánh giá độ tróc vỏ, tróc tép, bề dày vỏ trái, sự có hạt và không hạt.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các cây bưởi da xanh của 5 hộ nhà vườn: ông Phạm Nguyễn Trãi, anh Trường, ông Hai Hoa, thầy giáo Phúc, thầy giáo Hiệp, thì cây bưởi của ông Hai Hoa (xã Sơn Định – Chợ Lách), thầy giáo Phúc (xã Mỹ Thạnh An – TP. Bến Tre) hạt phấn hoa bưởi không nẩy mầm chiếm tỷ lệ 80%-83% nên trái bưởi các vườn này luôn luôn ít hạt hoặc không hạt. Vì vậy, cây bưởi da xanh của ông Hai Hoa và thầy giáo Phúc đã trên 20 năm tuổi, năng suất cao, chất lượng ngon, gần như không hạt. Do hạt phấn hoa bưởi da xanh tự bất dung hợp khi thụ phấn sẽ cho ra trái bưởi không hạt hoặc ít hạt với điều kiện không có thụ phấn chéo với các cây cùng họ, vì thế, bà con nông dân nên bao từng hoa bưởi trước khi thụ phấn, hoặc chỉ trồng chuyên bưởi da xanh, không trồng xen cam, chanh, quýt, bưởi khác trên một vườn.
Mặt khác, nên xới gốc bón phân hữu cơ, vô cơ đan xen 3-4 lần/năm. Khoảng tháng 2-3 dương lịch, bón phân xong, bồi bùn, không bồi lúc nước mặn. Cây trên 3 tuổi nên bón phân hữu cơ vi sinh trộn với phân chuồng 3-4 lần/năm, mỗi lần 5-10kg, bón riêng mỗi gốc 1kg vôi để dễ đậu trái và ngọt. Mỗi cây bón từ 0,8-2kg u-rê, 1,5-3,5kg lân; 0,6-1,5kg clorua kali chia 3-4 lần/năm.Vì bưởi mang trái thường xuyên trên cây nên có thể sau thu hoạch rộ bón: 25% đạm, 25% lân; thấy khi trái ít cần thúc ra hoa bón: 25% đạm, 50% lân, 30% clorua kali; khi đậu trái bón 50% đạm, 25% lân, 50% clorua kali; trước thu hoạch bón 20% clorua kali còn lại.
Chú ý cây bưởi nhánh trồng nghiêng, lúc nhỏ khi mọc tượt non có thể cắt bỏ cành cũ (già), để tượt non mọc lên khoảng 0,5-0,7m cắt ngọn để thân mọc các chồi mới, sau đó dùng dây nhựa kéo đọt uốn ra “tứ diện”. Cây bưởi sẽ phát triển cho trái đồng đều, cao khoảng 2-2,5m, dễ dàng chăm sóc và thu hoạch.
Đất trồng phải cao hơn hoặc bằng mực nước cao nhất hàng năm so với rằm tháng 10, rằm tháng chạp âm lịch; đất tơi xốp, không bị phèn. Đất ít cát pha sét, pha thịt; đất bờ dừa lâu năm; đất có trùn cư trú tức là có cả vi sinh vật tồn tại. Đất có cỏ hôi, cỏ lồng vực, cỏ đuôi chồn, rau trai mọc thì dễ trồng bưởi.
Trồng bưởi da xanh phải chọn giống kỹ: ăn ngọt, giống có tép đỏ hồng, ráo nước nhưng không khô, lột vỏ và tép tróc hoàn toàn, rất ít hạt hoặc không hạt, vỏ mỏng, trái tròn; đặc biệt không mua giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc.
Muốn vậy, chúng ta không chọn cây giống của bưởi da xanh khi cho trái có tép múi không ngọt, chua lẫn đắng, quá khô nước, nhất là ở hai đầu múi bưởi, màu quá đỏ hoặc hơi trắng, vỏ quá dày, hình trái lê, lột tép bưởi khó tróc. Vì giống bưởi da xanh hiện nay có những dòng chưa được thuần; có trái hình quả lê, trái hình cầu, có cây hai dạng trái, khi bán trái chọn ra phân loại cũng khó; mắt thường không thể phân biệt rõ sự khác nhau giữa dòng này với dòng khác.
Ngoài ra, trồng từ cây chiết nhánh, cây gốc ghép; kỹ thuật canh tác, chăm sóc, bón phân khác nhau cũng làm cho các đặc tính về năng suất, phẩm chất, hình dáng bị ảnh hưởng. Vì thế, thời gian qua, trong tỉnh đã có những nghiên cứu để tìm ra dòng vô tính, chọn giống bưởi da xanh ngon, đó là đề tài “Tuyển chọn, xác định dòng vô tính đặc trưng phục vụ xây dựng thương hiệu bưởi da xanh của tỉnh Bến Tre” do Thạc sĩ Võ Hoài Chân (Trung tâm Giống nông nghiệp Bến Tre chủ nhiệm). Đề tài được nghiên cứu độ prix, tỷ lệ nẩy mầm, điện di protein, điện di DNA, đánh giá độ tróc vỏ, tróc tép, bề dày vỏ trái, sự có hạt và không hạt.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các cây bưởi da xanh của 5 hộ nhà vườn: ông Phạm Nguyễn Trãi, anh Trường, ông Hai Hoa, thầy giáo Phúc, thầy giáo Hiệp, thì cây bưởi của ông Hai Hoa (xã Sơn Định – Chợ Lách), thầy giáo Phúc (xã Mỹ Thạnh An – TP. Bến Tre) hạt phấn hoa bưởi không nẩy mầm chiếm tỷ lệ 80%-83% nên trái bưởi các vườn này luôn luôn ít hạt hoặc không hạt. Vì vậy, cây bưởi da xanh của ông Hai Hoa và thầy giáo Phúc đã trên 20 năm tuổi, năng suất cao, chất lượng ngon, gần như không hạt. Do hạt phấn hoa bưởi da xanh tự bất dung hợp khi thụ phấn sẽ cho ra trái bưởi không hạt hoặc ít hạt với điều kiện không có thụ phấn chéo với các cây cùng họ, vì thế, bà con nông dân nên bao từng hoa bưởi trước khi thụ phấn, hoặc chỉ trồng chuyên bưởi da xanh, không trồng xen cam, chanh, quýt, bưởi khác trên một vườn.
Mặt khác, nên xới gốc bón phân hữu cơ, vô cơ đan xen 3-4 lần/năm. Khoảng tháng 2-3 dương lịch, bón phân xong, bồi bùn, không bồi lúc nước mặn. Cây trên 3 tuổi nên bón phân hữu cơ vi sinh trộn với phân chuồng 3-4 lần/năm, mỗi lần 5-10kg, bón riêng mỗi gốc 1kg vôi để dễ đậu trái và ngọt. Mỗi cây bón từ 0,8-2kg u-rê, 1,5-3,5kg lân; 0,6-1,5kg clorua kali chia 3-4 lần/năm.Vì bưởi mang trái thường xuyên trên cây nên có thể sau thu hoạch rộ bón: 25% đạm, 25% lân; thấy khi trái ít cần thúc ra hoa bón: 25% đạm, 50% lân, 30% clorua kali; khi đậu trái bón 50% đạm, 25% lân, 50% clorua kali; trước thu hoạch bón 20% clorua kali còn lại.
Chú ý cây bưởi nhánh trồng nghiêng, lúc nhỏ khi mọc tượt non có thể cắt bỏ cành cũ (già), để tượt non mọc lên khoảng 0,5-0,7m cắt ngọn để thân mọc các chồi mới, sau đó dùng dây nhựa kéo đọt uốn ra “tứ diện”. Cây bưởi sẽ phát triển cho trái đồng đều, cao khoảng 2-2,5m, dễ dàng chăm sóc và thu hoạch.
Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017
Kĩ thuật chăm sóc cây Phật thủ nâng cao năng suất
Cây Phật Thủ dễ bị rụng lá, nếu số lá rụng hơn một nửa, sẽ gây ảnh hưởng đến sự quang hợp, ảnh hưởng đến việc ra hoa kết quả, phải kịp thời tỉa bớt các chồi ngọn để giữ lá.
Chăm sóc cây Phật thủ phải dựa vào đặc tính của chúng, cụ thể là:
– Cây Phật thủ không chịu rét, nhiệt độ thích hợp là 22oC – 26oC.
– Tưới nước nên căn cứ theo mùa, khi nhiệt độ thấp 3-4 ngày tưới một lần. Mùa hè nhiệt độ cao, ngày tưới 1 lần, không tưới nước vào buổi trưa, cần chú ý thoát nước vào mùa mưa.
– Cây Phật thủ ưa sáng, nên phải để chậu trồng cây nơi có ánh sáng trực tiếp.
– Cây Phật thủ ưa đất có độ pH từ 5,5 – 6,5.
– Cây Phật thủ dễ bị rụng lá, nếu số lá rụng hơn một nửa, sẽ gây ảnh hưởng đến sự quang hợp, ảnh hưởng đến việc ra hoa kết quả, phải kịp thời tỉa bớt các chồi ngọn để giữ lá, giữ được lá là giữ được quả. Mùa thu chỉ giữ lại ít ngọn để năm sau cho quả. Vào mùa đông , không nên để gió lạnh thổi vào cây, phải khống chế lượng nước tưới, giữ cho chậu ẩm vừa, nếu phát hiện đất trong chậu khô, nên chia nhỏ lượng nước tưới nhiều lần, không nên tưới nước quá đẫm.
– Hàng năm vào tháng 3, Phật thủ bắt đầu ra hoa. Từ tháng 3 đến tháng 5, Phật thủ thường ra nhiều hoa đực hơn, nên chất lượng trái không cao, dễ rụng, chín sớm. Từ tháng 6 đến tháng 8 là thời gian cây Phật thủ ra hoa và đậu trái có chất lượng nhất.
Chăm sóc cây Phật thủ phải dựa vào đặc tính của chúng, cụ thể là:
– Cây Phật thủ không chịu rét, nhiệt độ thích hợp là 22oC – 26oC.
– Tưới nước nên căn cứ theo mùa, khi nhiệt độ thấp 3-4 ngày tưới một lần. Mùa hè nhiệt độ cao, ngày tưới 1 lần, không tưới nước vào buổi trưa, cần chú ý thoát nước vào mùa mưa.
– Cây Phật thủ ưa sáng, nên phải để chậu trồng cây nơi có ánh sáng trực tiếp.
– Cây Phật thủ ưa đất có độ pH từ 5,5 – 6,5.
– Cây Phật thủ dễ bị rụng lá, nếu số lá rụng hơn một nửa, sẽ gây ảnh hưởng đến sự quang hợp, ảnh hưởng đến việc ra hoa kết quả, phải kịp thời tỉa bớt các chồi ngọn để giữ lá, giữ được lá là giữ được quả. Mùa thu chỉ giữ lại ít ngọn để năm sau cho quả. Vào mùa đông , không nên để gió lạnh thổi vào cây, phải khống chế lượng nước tưới, giữ cho chậu ẩm vừa, nếu phát hiện đất trong chậu khô, nên chia nhỏ lượng nước tưới nhiều lần, không nên tưới nước quá đẫm.
– Hàng năm vào tháng 3, Phật thủ bắt đầu ra hoa. Từ tháng 3 đến tháng 5, Phật thủ thường ra nhiều hoa đực hơn, nên chất lượng trái không cao, dễ rụng, chín sớm. Từ tháng 6 đến tháng 8 là thời gian cây Phật thủ ra hoa và đậu trái có chất lượng nhất.
Thứ Tư, 10 tháng 5, 2017
khắc phục rụng quả non trên cây ăn trái
Cây ăn trái trồng tại nhà khi đến giai đoạn cây đang ra trái non thì có hiện tượng rụng quả non hàng loạt, Nếu không xử lý kịp thời có thể cây ăn trái sẽ rụng hết quả non, đâu là nguyên nhân gây rụng quả non và cách khắc phục ra sao cho phù hợp.
vai
1. Do cây ăn trái thiếu dinh dưỡng, không đủ ánh sáng quang hợp
Để cây ăn trái đủ sức ra hoa ra trái cần bón phân cho gốc cây luân phiên phân vô cơ hữu cơ ( cần quan tâm phân vô cơ có nhiều đạm và kali) và tưới nước đầy đủ, để cây ăn trái nơi có nhiều ánh sáng, từ đó cây quang hợp tạo nhiều cành lá mới để cây đủ sức bước vào giai đoạn ra hoa kết trái. Khi thấy cây ăn trái bắt đầu ra hoa thì ngưng không bón phân vô cơ.
2. Bón bổ sung phân vi lượng và phân bón lá giúp trái cây mau lớn và không bị rụng
Khi cây ra hoa và bắt đầu cho quả nhỏ thì ngưng bón phân gốc mà chuyển sang bón phân qua lá như vi lượng, phân dưỡng trái, phân NPK bón lá…cách bón theo như khuyến cáo nhà sản xuất, thời gian phun từ 2-3 lần mỗi lần cách nhau 7-10 ngày.
3. Phòng trừ sâu bệnh và tăng sức đề kháng cho cây ăn trái khi gặp thời tiết bất lợi
Khi cây ăn trái ở giai đoạn có quả non dễ bị sâu bệnh tấn công như : nhện đỏ ( nếu cây thiếu nước khô hạn), phấn trắng nấm bồ hóng ( nếu gặp mưa kéo dài), ruồi đục quả gây thối quả, bệnh vàng lá, sâu ăn lá, rệp muội, rệp sáp…cây ăn trái khi bị sâu bệnh tấn công làm cho cây dễ bị rụng quả non.
Cần phun phòng trừ sâu bệnh kết hợp bổ sung vitamin giúp cây khỏe, các loại thuốc BVTV thường sử dụng như : Secsàigòn, Abametin, Oxfatox, Topsin M, Benomyl, Anvil,..và các loại Vitamin như B1, Rong biển, Phân cá….và dùng thuốc bả mồi để xử lý ruồi.
Nếu ở nhà trồng vài cây ăn trái thì có thể kiểm tra thường xuyên và tiêu diệt sớm các mầm bệnh vừa xuất hiện, hạn chế dùng thuốc BVTV sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe gia đình và môi trường.
vai
1. Do cây ăn trái thiếu dinh dưỡng, không đủ ánh sáng quang hợp
Để cây ăn trái đủ sức ra hoa ra trái cần bón phân cho gốc cây luân phiên phân vô cơ hữu cơ ( cần quan tâm phân vô cơ có nhiều đạm và kali) và tưới nước đầy đủ, để cây ăn trái nơi có nhiều ánh sáng, từ đó cây quang hợp tạo nhiều cành lá mới để cây đủ sức bước vào giai đoạn ra hoa kết trái. Khi thấy cây ăn trái bắt đầu ra hoa thì ngưng không bón phân vô cơ.
2. Bón bổ sung phân vi lượng và phân bón lá giúp trái cây mau lớn và không bị rụng
Khi cây ra hoa và bắt đầu cho quả nhỏ thì ngưng bón phân gốc mà chuyển sang bón phân qua lá như vi lượng, phân dưỡng trái, phân NPK bón lá…cách bón theo như khuyến cáo nhà sản xuất, thời gian phun từ 2-3 lần mỗi lần cách nhau 7-10 ngày.
3. Phòng trừ sâu bệnh và tăng sức đề kháng cho cây ăn trái khi gặp thời tiết bất lợi
Khi cây ăn trái ở giai đoạn có quả non dễ bị sâu bệnh tấn công như : nhện đỏ ( nếu cây thiếu nước khô hạn), phấn trắng nấm bồ hóng ( nếu gặp mưa kéo dài), ruồi đục quả gây thối quả, bệnh vàng lá, sâu ăn lá, rệp muội, rệp sáp…cây ăn trái khi bị sâu bệnh tấn công làm cho cây dễ bị rụng quả non.
Cần phun phòng trừ sâu bệnh kết hợp bổ sung vitamin giúp cây khỏe, các loại thuốc BVTV thường sử dụng như : Secsàigòn, Abametin, Oxfatox, Topsin M, Benomyl, Anvil,..và các loại Vitamin như B1, Rong biển, Phân cá….và dùng thuốc bả mồi để xử lý ruồi.
Nếu ở nhà trồng vài cây ăn trái thì có thể kiểm tra thường xuyên và tiêu diệt sớm các mầm bệnh vừa xuất hiện, hạn chế dùng thuốc BVTV sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe gia đình và môi trường.
Thứ Hai, 8 tháng 5, 2017
Kỹ thuật trồng và chăm sóc Trám Trắng
1. Kỹ thuật hạt giống cây con.
Giống.
– Giống phải thu hái từ những cây đã có 2 mùa quả trở lên (9-10 tuổi), cây mẹ sinh trưởng tốt, phát triển cân đối, không bị sâu bệnh, cong queo.
– Quả trám trắng chín vào tháng 9-10. Khi thấy quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng mơ, ăn có vị chua ngọt, nhân hạt màu trắng mới thu hái. Không thu hái non ảnh hưởng đến chất lượng cây con.
– Sau khi thu hái về, cần loại bỏ những quả kém phẩm chất, sau đó vun thành đống ủ trong 2-3 ngày. Ngâm quả vào nước nóng khoảng 60°C (2 sôi 3 lạnh) trong thùng có nắp đậy kín, sau 2-3 giờ vớt ra và tách lấy hạt, có thể đem gieo ngay hoặc bảo quản ẩm.
– Hạt chế biến xong cần bảo quản trong cát ẩm từ 5-8% hoặc bảo quản trong tủ lạnh có nhiệt độ ổn định 5°C.
Vườn ươm: Vườn ươm nên gần nơi trồng rừng và thuận tiện cho việc vận chuyển cây con. Mặt vườn cần bằng phẳng, thoát nước, rọi nắng và gần nguồn nước. Vườn phải đặt xa nguồn bệnh và tách rời khu canh tác nông nghiệp.
Tạo bầu:
– Vỏ bầu được làm bằng PE màu trắng đục hay đen, bảo đảm độ bền để khi đóng bầu và vận chuyển không bị rách. Kích thước bầu 9x14cm, không đáy đục lỗ xung quanh để ươm cây 6-7 tháng và 12×18 cm có đáy nhưng cắt góc đục lỗ xung quanh cho cây ươm trong vườn 15-16 tháng.
– Thành phần ruột bầu gồm đất tầng A dưới tán rừng 90%, phân chuồng hoai 9% và Supe lân Lâm Thao 1%. Ba thành phần được trộn đều nhau.
– Bầu được đóng đầy, chặt sau đó xếp thành luống rộng 0,8-1m, dài 5-10m, mặt bầu bằng phẳng. Các luống bầu đặt cách nhau 50-60cm để thuận tiện việc đi lại chăm sóc cây con. Xung quanh luống bầu lấp đất cao bằng 2/3 bầu, rải đất bột vào khe hở giữa các bầu.
Gieo ươm:
– Xử lý hạt: Ngâm hạt vào nước lã từ 10-12 giờ sau đó tiến hành ủ hạt. Chọn nền xi măng hoặc nền đất cứng ngoài trời, đổ 1 lớp hạt cát xuống dưới dày 5cm, tiếp đó rải 1-2 lớp hạt ở giữa sau đó đổ cát và san đều để cát lấp kín hết khe hở giữa các hạt trám, trên cùng rải 1 lớp cát dày 3-5cm và tới đẫm nước, dùng rơm rạ phủ lên trên để giữ ẩm. Sau 20 ngày hạt bắt đầu nảy mầm.
– Thời vụ gieo ươm thích hợp nhất là tháng 10-11 ngày sau khi thu hái và chế biến xong.
– Khi hạt đã nảy mầm áp dụng 1 trong 2 cách cấy cây như sau: để cho cây mọc khỏi mặt luống, khi lá đã xòa hết và màu lá đã chuyển từ vàng sang xanh thì nhổ lên đem cấy vào bầu, hoặc chọn những hạt đã nứt nanh đem cấy vào bầu, lấp kín đất dày 1cm và tưới nước cho đủ ẩm ngay sau khi cấy xong.
Chăm sóc cây:
– Giai đoạn cây con ở vườn ươm cần có dàn che bóng, mức độ che giảm dần theo tháng tuổi, 20 ngày đầu che bóng 100% sau đó giảm 50%, khi cây mầm đã có 1-2 lá thật (khoảng 40 ngày) thì giảm xuống 25%. Giỡ bỏ dàn trước lúc trồng khoảng 1-1,5 tháng.
– Thường xuyên phải tưới nước đủ và định kỳ 20 ngày 1 lần làm cỏ phá váng cho cây con.
– Định kỳ bón thúc 1 tháng 1 lần bằng phân NPK tỷ lệ 2%, tới 3 lít/1m2, phải tưới rửa lá ngay sau khi tưới phân. Tuyệt đối không dùng đạm urê để tưới thúc cho cây.
– Thường xuyên quan sát để đề phòng nấm bệnh và sâu hại cây con. Nếu bị lở cổ rễ thì dùng Benlat nồng độ 0,03-0,05% phun đều lên luống và ngừng tưới nước. Nếu bị sâu ăn lá thì bắt bằng thủ công hoặc dùng thuốc Malathion nồng độ 0,1% phun 1 lít nước/5m2.
– Trong quá trình chăm sóc cây con ở vườn ươm cần tiến hành đảo bầu 2 lần, lầ 1 sau khi cấy 2 tháng và lần 2 trớc lúc trồng 1-1,5 tháng.
Giống.
– Giống phải thu hái từ những cây đã có 2 mùa quả trở lên (9-10 tuổi), cây mẹ sinh trưởng tốt, phát triển cân đối, không bị sâu bệnh, cong queo.
– Quả trám trắng chín vào tháng 9-10. Khi thấy quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng mơ, ăn có vị chua ngọt, nhân hạt màu trắng mới thu hái. Không thu hái non ảnh hưởng đến chất lượng cây con.
– Sau khi thu hái về, cần loại bỏ những quả kém phẩm chất, sau đó vun thành đống ủ trong 2-3 ngày. Ngâm quả vào nước nóng khoảng 60°C (2 sôi 3 lạnh) trong thùng có nắp đậy kín, sau 2-3 giờ vớt ra và tách lấy hạt, có thể đem gieo ngay hoặc bảo quản ẩm.
– Hạt chế biến xong cần bảo quản trong cát ẩm từ 5-8% hoặc bảo quản trong tủ lạnh có nhiệt độ ổn định 5°C.
Vườn ươm: Vườn ươm nên gần nơi trồng rừng và thuận tiện cho việc vận chuyển cây con. Mặt vườn cần bằng phẳng, thoát nước, rọi nắng và gần nguồn nước. Vườn phải đặt xa nguồn bệnh và tách rời khu canh tác nông nghiệp.
Tạo bầu:
– Vỏ bầu được làm bằng PE màu trắng đục hay đen, bảo đảm độ bền để khi đóng bầu và vận chuyển không bị rách. Kích thước bầu 9x14cm, không đáy đục lỗ xung quanh để ươm cây 6-7 tháng và 12×18 cm có đáy nhưng cắt góc đục lỗ xung quanh cho cây ươm trong vườn 15-16 tháng.
– Thành phần ruột bầu gồm đất tầng A dưới tán rừng 90%, phân chuồng hoai 9% và Supe lân Lâm Thao 1%. Ba thành phần được trộn đều nhau.
– Bầu được đóng đầy, chặt sau đó xếp thành luống rộng 0,8-1m, dài 5-10m, mặt bầu bằng phẳng. Các luống bầu đặt cách nhau 50-60cm để thuận tiện việc đi lại chăm sóc cây con. Xung quanh luống bầu lấp đất cao bằng 2/3 bầu, rải đất bột vào khe hở giữa các bầu.
Gieo ươm:
– Xử lý hạt: Ngâm hạt vào nước lã từ 10-12 giờ sau đó tiến hành ủ hạt. Chọn nền xi măng hoặc nền đất cứng ngoài trời, đổ 1 lớp hạt cát xuống dưới dày 5cm, tiếp đó rải 1-2 lớp hạt ở giữa sau đó đổ cát và san đều để cát lấp kín hết khe hở giữa các hạt trám, trên cùng rải 1 lớp cát dày 3-5cm và tới đẫm nước, dùng rơm rạ phủ lên trên để giữ ẩm. Sau 20 ngày hạt bắt đầu nảy mầm.
– Thời vụ gieo ươm thích hợp nhất là tháng 10-11 ngày sau khi thu hái và chế biến xong.
– Khi hạt đã nảy mầm áp dụng 1 trong 2 cách cấy cây như sau: để cho cây mọc khỏi mặt luống, khi lá đã xòa hết và màu lá đã chuyển từ vàng sang xanh thì nhổ lên đem cấy vào bầu, hoặc chọn những hạt đã nứt nanh đem cấy vào bầu, lấp kín đất dày 1cm và tưới nước cho đủ ẩm ngay sau khi cấy xong.
Chăm sóc cây:
– Giai đoạn cây con ở vườn ươm cần có dàn che bóng, mức độ che giảm dần theo tháng tuổi, 20 ngày đầu che bóng 100% sau đó giảm 50%, khi cây mầm đã có 1-2 lá thật (khoảng 40 ngày) thì giảm xuống 25%. Giỡ bỏ dàn trước lúc trồng khoảng 1-1,5 tháng.
– Thường xuyên phải tưới nước đủ và định kỳ 20 ngày 1 lần làm cỏ phá váng cho cây con.
– Định kỳ bón thúc 1 tháng 1 lần bằng phân NPK tỷ lệ 2%, tới 3 lít/1m2, phải tưới rửa lá ngay sau khi tưới phân. Tuyệt đối không dùng đạm urê để tưới thúc cho cây.
– Thường xuyên quan sát để đề phòng nấm bệnh và sâu hại cây con. Nếu bị lở cổ rễ thì dùng Benlat nồng độ 0,03-0,05% phun đều lên luống và ngừng tưới nước. Nếu bị sâu ăn lá thì bắt bằng thủ công hoặc dùng thuốc Malathion nồng độ 0,1% phun 1 lít nước/5m2.
– Trong quá trình chăm sóc cây con ở vườn ươm cần tiến hành đảo bầu 2 lần, lầ 1 sau khi cấy 2 tháng và lần 2 trớc lúc trồng 1-1,5 tháng.
Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2017
Cách chuyển vị trí của cây trồng lâu năm
Đào, đánh cây ăn quả, cây bóng mát, cây cảnh có 1-3 năm tuổi, đường kính gốc <10cm, chiều cao cây <4m:
Với các loại cây dễ sống như cây si, đa, xanh, sấu, chám, keo, cam, chanh, quất, quýt…, gội (cắt bỏ) khoảng 2/3 tán cây, tưới đủ ẩm, đào sâu 30-40cm cắt các rễ ngang cách gốc 1-2m, cây càng to đào cách gốc càng xa, càng sâu. Khoảng 2 tháng cây hồi sức, trước khi ra lộc mới (có một vài nách lá nhú lộc dài <1cm) thì tiến hành đào chặt nốt rễ cọc, rễ cái rồi chuyển vị trí cây đi nơi khác.
Trước khi chuyển vị trí cần chuẩn bị hố trồng có đường kính lớn hơn bầu cây định đánh khoảng 40-50cm, sâu hơn bầu cây định đánh 10-15cm. Đặt nhẹ nhàng bầu cây xuống hố, lấp đất nhỏ quanh bầu cho đầy khe hở, dùng chân nhẵm chặt xung quanh cách bầu 10cm, tưới đẫm 5-10lít nước/hốc lần đầu, tưới đủ ẩm trong 10-15 ngày cho cây bén rễ hồi xanh thuận lợi.
Đánh các loại cây to khó sống hơn như cây hồng, cây xoài, cây nhãn, vải, cách đánh như trên, đánh lần đầu vào tháng 11-12, đánh trồng vào tháng 2-3. Nếu đánh trồng vào các tháng 4-10 cần phải che nắng bằng cách rát bằng lưới đen tản nhiệt trong 20-30 ngày.
Đào đánh các loại cây lâu năm, có đường kính gốc 0,5-1m:
Chủ yếu áp dụng cho các loại cây làm cảnh như: Lộc vừng, đa, si, xanh, cây sắn thuyền…Trước khi đào gốc cắt toàn bộ tán cây và thân chính cách gốc 1-3m tùy theo yêu cầu thẩm mỹ. Cắt toàn bộ rễ cái, rễ con cách gốc cây0,5cm, dùng cần cẩu hay người khênh để chuyển vị trí đến vườn ươm.
Trát 1 lớp đất thịt, hay bùn ướt (không dùng bùn ở những ao tù có màu đen, mùi hôi tanh) dày 1cm, vùi gốc cây trong cát ẩm, che thân và gốc cây bằng nilon tản nhiệt màu đen trong 40-50 ngày ở vườn ươm, khi nào thấy thân cây nẩy lộc; các lộc (đọt) non chuyển thành lá bánh tẻ mới thôi.
Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017
Cách bón phân NPK cho cam
Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng (N, P, K) và các chất trung vi lượng canxi, manhê, các chất vi lượng như kẽm, bo, môlípđen thì cây cam phát triển khỏe, cho năng suất cao…
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu nông học của các viện, Trường Đại học Nông nghiệp, các trung tâm khuyến nông trong nước đã xác định trung bình 1 tấn quả cam tươi chín, cây cam cần: 1.773g N; 506g P2O5; 3.194g K2O; 367g MgO; 1.009g CaO; 142g S, 3g Fe; 0,8g Mn; 1,4g Zn; 0,6g Cu; 2,8g B.
Do đặc điểm hình thành đất trồng cam ở miền núi phía Bắc là do đá phiến thạch phong hóa nên bản thân đất chua và nghèo dinh dưỡng đặc biệt các nguyên tố trung vi lượng, cộng với quá trình đốt rẫy nên đất ngày càng bị rửa trôi xói mòn, độ pH thấp từ 3- 4,5 nghèo các chất dình dưỡng trung vi lượng.
Trong khi đó cây cam lại cần độ pH từ 5,0 – 6,5 và phải có hàm lượng canxi, manhê và các chất vi lượng từ trung bình trở lên. Các thực nghiệm bón phân cho cây cam đều khẳng định: Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng (N, P, K) và các chất trung vi lượng canxi, manhê, các chất vi lượng như kẽm, bo, môlípđen thì cây cam phát triển khỏe, cho năng suất cao…
Nắm bắt được nhu cầu thiết yếu này, Công ty Phân lân Văn Điển đã cho ra đời sản phẩm phân bón đa yếu tố NPK chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng (N,P,K) các chất trung lượng như canxi, manhê, các chất vi lượng như kẽm, bo, môlípđen… chuyên dùng cho cây cam đặc biệt là các chất dinh dưỡng trong phân đa yếu tố NPK Văn Điển không bị rửa trôi, có pH từ 8- 8,5 nên khi bón sẽ cải tạo nâng cao pH đất, là nguồn dự trữ dinh dưỡng cung cấp từ từ đầy đủ, cân đối cho cây cam.
Cách sử dụng phân bón đa yếu tố (ĐYT) NPK Văn Điển cho cây cam:
Chủng loại phân bón:
– NPK 5.10.3 dạng viên (N=5%; P2O5=10%; K2O=3%; S=2%; MgO=9%; CaO=15%; SiO2=14%;
– NPK 16.6.16 (N=16%; P2O5=6%; K2O=16%; S=2%; MgO=5%; CaO=8%; SiO2=7%) ngoài ra có các chất vi lượng như B, Mn, Zn, Cu, Co…
Lượng bón:
Lượng bón nhiều hay ít phụ thuộc vào đất, tuổi cây, thời điểm bón, cũng như tiềm năng năng suất giống, tập quán thâm canh… Cụ thể:
Cách bón:
Bón tháng 11- 12 (sau thu quả): 100% phân hữu cơ hoai mục + 100% phân NPK 5.10.3. Đào rãnh xung quanh tán rộng 20 – 25cm, sâu từ 5 – 10cm và rải phân sau đó lấp đất kín phân.
+ Bón thúc lần 1(đón hoa): Tháng 1 – 2 bón 40% lượng NPK 16.6.16; Bón thúc lần 2 (thúc quả): Tháng 4 – 5 bón 30% lượng NPK 16.6.16; Bón thúc lần 3 (thúc quả): Tháng 7 – 8 bón 30% lượng NPK 16.6.16.
Với cam V2 (thu vào Tết) bón thêm đợt tháng 9 – 10 mỗi gốc bón 1kg NPK 16.6.16 (chống nứt quả). Rắc phân, xới đất nhẹ quanh tán lấp phân. Tưới giữ ẩm thường xuyên hoặc tranh thủ trời mưa bón phân
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu nông học của các viện, Trường Đại học Nông nghiệp, các trung tâm khuyến nông trong nước đã xác định trung bình 1 tấn quả cam tươi chín, cây cam cần: 1.773g N; 506g P2O5; 3.194g K2O; 367g MgO; 1.009g CaO; 142g S, 3g Fe; 0,8g Mn; 1,4g Zn; 0,6g Cu; 2,8g B.
Do đặc điểm hình thành đất trồng cam ở miền núi phía Bắc là do đá phiến thạch phong hóa nên bản thân đất chua và nghèo dinh dưỡng đặc biệt các nguyên tố trung vi lượng, cộng với quá trình đốt rẫy nên đất ngày càng bị rửa trôi xói mòn, độ pH thấp từ 3- 4,5 nghèo các chất dình dưỡng trung vi lượng.
Trong khi đó cây cam lại cần độ pH từ 5,0 – 6,5 và phải có hàm lượng canxi, manhê và các chất vi lượng từ trung bình trở lên. Các thực nghiệm bón phân cho cây cam đều khẳng định: Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng (N, P, K) và các chất trung vi lượng canxi, manhê, các chất vi lượng như kẽm, bo, môlípđen thì cây cam phát triển khỏe, cho năng suất cao…
Nắm bắt được nhu cầu thiết yếu này, Công ty Phân lân Văn Điển đã cho ra đời sản phẩm phân bón đa yếu tố NPK chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng (N,P,K) các chất trung lượng như canxi, manhê, các chất vi lượng như kẽm, bo, môlípđen… chuyên dùng cho cây cam đặc biệt là các chất dinh dưỡng trong phân đa yếu tố NPK Văn Điển không bị rửa trôi, có pH từ 8- 8,5 nên khi bón sẽ cải tạo nâng cao pH đất, là nguồn dự trữ dinh dưỡng cung cấp từ từ đầy đủ, cân đối cho cây cam.
Cách sử dụng phân bón đa yếu tố (ĐYT) NPK Văn Điển cho cây cam:
Chủng loại phân bón:
– NPK 5.10.3 dạng viên (N=5%; P2O5=10%; K2O=3%; S=2%; MgO=9%; CaO=15%; SiO2=14%;
– NPK 16.6.16 (N=16%; P2O5=6%; K2O=16%; S=2%; MgO=5%; CaO=8%; SiO2=7%) ngoài ra có các chất vi lượng như B, Mn, Zn, Cu, Co…
Lượng bón:
Lượng bón nhiều hay ít phụ thuộc vào đất, tuổi cây, thời điểm bón, cũng như tiềm năng năng suất giống, tập quán thâm canh… Cụ thể:
Cách bón:
Bón tháng 11- 12 (sau thu quả): 100% phân hữu cơ hoai mục + 100% phân NPK 5.10.3. Đào rãnh xung quanh tán rộng 20 – 25cm, sâu từ 5 – 10cm và rải phân sau đó lấp đất kín phân.
+ Bón thúc lần 1(đón hoa): Tháng 1 – 2 bón 40% lượng NPK 16.6.16; Bón thúc lần 2 (thúc quả): Tháng 4 – 5 bón 30% lượng NPK 16.6.16; Bón thúc lần 3 (thúc quả): Tháng 7 – 8 bón 30% lượng NPK 16.6.16.
Với cam V2 (thu vào Tết) bón thêm đợt tháng 9 – 10 mỗi gốc bón 1kg NPK 16.6.16 (chống nứt quả). Rắc phân, xới đất nhẹ quanh tán lấp phân. Tưới giữ ẩm thường xuyên hoặc tranh thủ trời mưa bón phân
Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017
Bí quyết trồng Đu Đủ cho trái to
cĐu đủ trồng chủ yếu bằng hạt, vì nhanh, rẻ và tiện lợi. Vì thế, để có một vườn đu đủ trái dài, năng suất cao, đòi hỏi người trồng đu đủ phải quan tâm chăm sóc ngay từ khi gieo hạt. Chọn quả đu đủ to đều vừa chín ửng, bổ ra lấy hạt dùng rổ đãi chọn những hạt chắc phơi qua một nắng rồi đưa đi ươm. Khi hạt nảy mầm, cho vào bầu ươm 30 ngày cho cây cao khoảng 15 cm là đưa ra trồng.
Thông thường, cây được trồng thẳng đứng, nhưng qua thực tế theo cách này cây chỉ phát triển nhanh về chiều cao, mà lại chậm ra trái, nếu gặp mưa lớn dễ đổ ngã. Nếu khi trồng đặt bầu giống nằm dọc để thân đu đủ nằm nghiêng so với mặt đất 45 độ, mật độ vừa phải, khoảng 300 cây/sào là vừa, với cách trồng này, hạn chế cây phát triển chiều cao, trong khi bộ rễ khỏe và gốc cây to, chắc. Khi đu đủ ra trái gặp lúc trời mưa, gió vẫn không đổ ngã.
Hơn nữa, khi mới trồng nên đào hố sâu, rộng, bón lót cho từ 0,5-1kg/1 gốc phân chuồng hoai mục, sang tháng thứ 2-3 thì bón thúc mỗi gốc khoảng 50-100 gam phân NPK hòa tan trong nước, tưới vào dưới tán cây, cách xa gốc 20-30cm. Khi cây ra hoa hình thành quả, hạn chế bón phân – ở mức 100-200g.
Chú ý vào mùa lạnh cần tưới ẩm thường xuyên, kết hợp phun oxyclorua đồng và phòng trừ rệp hại cây. Cần chú ý, quá trình chăm sóc chỉ dùng tay nhổ cỏ, không dùng cuốc làm đứt rễ, dẫn đến bị úng thủy, cây chết.
Với kinh nghiệm, cách trồng mới này, cây đu đủ cho thu hoạch, năng suất đạt quanh năm, hy vọng với phương pháp này bà con áp dụng, sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao.
(Theo kinh nghiệm của anh Nguyễn Thành Khải – nổi tiếng là nông dân trồng đu đủ giỏi tại thôn Phú Thạnh, xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn).
Thông thường, cây được trồng thẳng đứng, nhưng qua thực tế theo cách này cây chỉ phát triển nhanh về chiều cao, mà lại chậm ra trái, nếu gặp mưa lớn dễ đổ ngã. Nếu khi trồng đặt bầu giống nằm dọc để thân đu đủ nằm nghiêng so với mặt đất 45 độ, mật độ vừa phải, khoảng 300 cây/sào là vừa, với cách trồng này, hạn chế cây phát triển chiều cao, trong khi bộ rễ khỏe và gốc cây to, chắc. Khi đu đủ ra trái gặp lúc trời mưa, gió vẫn không đổ ngã.
Chú ý vào mùa lạnh cần tưới ẩm thường xuyên, kết hợp phun oxyclorua đồng và phòng trừ rệp hại cây. Cần chú ý, quá trình chăm sóc chỉ dùng tay nhổ cỏ, không dùng cuốc làm đứt rễ, dẫn đến bị úng thủy, cây chết.
Với kinh nghiệm, cách trồng mới này, cây đu đủ cho thu hoạch, năng suất đạt quanh năm, hy vọng với phương pháp này bà con áp dụng, sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao.
(Theo kinh nghiệm của anh Nguyễn Thành Khải – nổi tiếng là nông dân trồng đu đủ giỏi tại thôn Phú Thạnh, xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn).
Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017
Cách chọn giống chọn giống cây sầu riêng
Theo thời gian, hoặc nhờ khám phá, hoặc nhờ gây giống, hiện nay Sầu Riêng có độ 70 giống, trong đó giống Sầu Riêng đường không hạt có triển vọng và được giới tiêu thụ ưa chuộng hơn hết, phân loài này được gây giống đặc biệt ở Thái Lan và Việt Nam.
I. Đặc điểm phân bố
Sầu Riêng có thân cây lớn, quả có mùi độc đáo và vỏ có nhiều gai. Trong thế kỷ 20 ở Việt Nam được biết tới 2 giống “sầu riêng mỡ” có lớp cơm màu trắng xám như mỡ và “sầu riêng đường” có lớp cơm màu vàng như đường mía.
Theo thời gian, hoặc nhờ khám phá, hoặc nhờ gây giống, hiện nay sầu riêng có độ 70 giống, trong đó giống “sầu riêng đường không hạt” có triển vọng và được giới tiêu thụ ưa chuộng hơn hết, phân loài này được gây giống đặc biệt ở Thái Lan và Việt Nam. Loài này có đặc điểm múi ngọt, không có hạt hoặc hạt bị tiêu giảm.
Cây sầu riêng có thể cao tới 40 mét. Lá luôn xanh, đối xứng hình êlip đến hình thuôn, dài từ 10-18 cm. Hoa nở từng chùm từ 3-30 trên cành lớn và thân, mỗi hoa có đài hoa và 5 (ít khi 4 hay 6) cánh hoa.
Trái sầu riêng chín sau 3 tháng sau khi thụ phấn. Trái có thể dài tới 40 cm và đường kính 30 cm, nặng từ 1 đến 5 kg. Trái có thể mọc trên thân cây cành, sầu riêng có thể có trái sau khi trồng 4 tới 5 năm. Màu của trái có thể từ xanh sang nâu, hình dạng thuôn đến tròn. Bên ngoài có lớp vỏ cứng bao với gai nhọn, mùi nồng đặc trưng tỏa từ thịt bên trong. Nhiều người xem đó là thơm, nhưng cỏ người cho đó là thối. Cả hai kết quả phẩm bình, tuy mâu thuẫn nhưng đều có lý.
Trong trái sầu riêng chín, theo các chuyên gia hóa học, có hơn 100 chất, trong đó có một số thuộc ête (ether) thơm, và một số ête thối, có thành phần lưu huỳnh. Thơm hay thổi là kết quả của khứu giác cá nhân: tiếp nhận ête thơm trước tiên, hay tiếp nhận ête thối trước tiên mà thôi.
Một đặc điểm nữa của trái sầu riêng là trái chín chỉ rơi (rụng) vào một thời điểm nhất định trong ngày: trái rơi (rụng) nhiều nhất vào lúc giữa đêm và một số ít vào giữa trưa, những giờ khác không có trái rơi. Nhờ đó con người tránh được tai nạn.
Trái sầu riêng có nhiều múi, mỗi múi có 1 đến 3 hạt. Phần ăn được là phần thịt (cơm) bao quanh hạt cứng. Hạt có kích cờ như hạt mít, có thể ăn được nếu được nướng, chiên hay luộc.
Sầu riêng phân bố chủ yếu ở Indonesia (Nam Dương), Malaysia (Mã Lai) và Brunei, tuy nhiên có thể mọc ở mọi nơi có điều kiện khí hậu tương tự. Các vùng khác mà sầu riêng có thể mọc là Mindanao, Thái Lan, Philipin, Queensland ở úc, Campuchia, Việt Nam, Lào, Ấn Độ, Sri lanka và một phần của Hawaii. Thái Lan là nước xuất khẩu chủ yếu sầu riêng.
II. Kỹ thuật chọn giống
– Sầu riêng trước đây được trồng nhiều bằng hột và là cây thụ phấn chéo nên có sự phân ly rất lớn ở thể hệ sau.
– Hiện nay ở miền Nam có đến 59 dòng/giống sầu riêng được trồng với nhiều dạng trái, trọng lượng và phẩm chất khác nhau. Sau đây là một số giống được ưa chuộng và có triển vọng để phát triển:
1. Sầu riêng cơm vàng hạt lép
Loại này có tán khá tròn đều, năng suất cao hơn 100 trái/cây/năm, phân bố trái đều, ít nhiễm sâu bệnh nguy hiểm, trọng lượng trái trung bình từ 3 – 3,5kg, dạng trái cân đối, cơm vàng đều, tỷ lệ cơm 29,6%, tỷ lệ hạt lép 60%, vị béo, ngọt, thơm. Giống này có nguồn gốc ở Cái Mơn – Chợ Lách – Bến Tre.
2. Sầu riêng cơm vàng hạt lép (RI – 6)
– Tán cây tròn đều, năng suất cao, khoảng 150 trái/cây/năm và ổn định liên tục trong nhiều năm.
– Trái phân bố đều trên cây, ít nhiễm sâu bệnh nguy hiểm. Trọng lượng trái trung bình 3 – 3,5kg, dạng trái cân đối, thon dài hơi nhọn đầu.
Cơm có màu vàng rất hấp dẫn, ráo, tỷ lệ cơm trên trái khoảng trên 30%.
Giống này có nguồn gốc ngoài nước, được trồng nhiều ở Vĩnh Long và Cái Mơn, Chợ Lách – Bến Tre.
3. Sầu riêng Kanyao
Đây là giống được thị trường thế giới chấp nhận. Cây trồng ở Việt Nam sinh trưởng phát triển khá mạnh, tán thoáng, cành thưa và vuông gốc với thân, trái có mũi hơi nhọn, cơm rất dày và màu vàng, bảo quản được lâu. Tuy nhiên hơi ít trái. Đặt biệt khi trồng ở miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long nếu quy trình chăm sóc không đúng thì phẩm chất trái không đạt.
Cũng như giống Monthong, Kanyao là giống của Thái Lan được du nhập vào Việt Nam bằng còn đường phi mậu dịch. Giống này trồng nhiều ở huyện Chợ Lách Trái có hình tròn, cuống dài, rất dày cơm và có màu vàng sáng, hột lép trên 80%, chưa thấy hiện tượng bị sượng khi trồng ở Bến Tre.
Ngoài ra, còn rất nhiều giống được nông dân trồng lâu đời như: sầu riêng khổ qua xanh; sầu riêng khổ qua vàng (làm gốc ghép); sầu riêng bí rợ…
Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017
trồng và chăm sóc cây Quýt hồng
Hiện nay, quýt hồng chủ yếu được trồng bằng nhánh chiết từ cây giống ở địa phương. Nhánh chiết phải chọn từ cây mẹ 5 năm tuổi trở lên, sạch bệnh, cây khỏe, sai trái, trái to và đặc biệt trái phải mang đầy đủ các đặc trưng của giống.
I. KỸ THUẬT TRỒNG:
1/ Đất trồng và chuẩn bị liếp trồng: Để thực hiện quy trình vietgap cần vẽ bản đồ đất cho từng khu vực của 4 xã theo quy hoạch của huyện Lai Vung (Đồng Tháp). Đất trồng: Đất có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, pH khoảng 5,5-7,0, hàm lượng hữu cơ >3%. Đào mương lên liếp: nhằm mục đích nâng cao tầng canh tác và giúp cây không bị ngập úng trong mùa mưa. Mương tưới và tiêu nước có chiều rộng từ 1-2m, chiều ngang liếp từ 5-8m. Vườn phải có đê bao chống lũ triệt để.
2/ Chuẩn bị cây giống: Hiện nay, quýt hồng chủ yếu được trồng bằng nhánh chiết từ cây giống ở địa phương. Nhánh chiết phải chọn từ cây mẹ 5 năm tuổi trở lên, sạch bệnh, cây khỏe, sai trái, trái to và đặc biệt trái phải mang đầy đủ các đặc trưng của giống.
Cây Quýt Hồng
Nông dân trồng quýt hồng ở Lai Vung – Đồng Tháp
3/ Đặt cây con: Chuẩn bị mô, dùng đất mặt ruộng hay đất bãi bồi ven sông phơi khô. Mô có chiều cao 40 – 60 cm, đường kính 60 – 80 cm, đào hố giữa mô, trộn đều đất với 5-10 kg phân chuồng, 1 kg phân Super lân và 0,5 kg vôi cho vào hố trước khi đặt cây con.
Cách đặt cây con: Đặt cây xuống giữa mô, sao cho mặt bầu ngang bằng mặt mô, ém đất xung quanh gốc, cắm cọc giữ cho cây không bị gió làm lung lay và tưới đủ nước. Đánh dấu/ký hiệu cho từng cây và vẽ sơ đồ vườn trồng. Cây con sau khi trồng cần được chăm sóc kỹ, nhằm đảm bảo mật số và độ đồng đều giữa các cây. Thông thường có thể trồng với khoảng cách 3 x 4m hoặc 4 x 4m, tương đương với mật độ từ 600 – 700 cây/ha.
II. CHĂM SÓC:
1/ Vét mương bồi liếp: Có thể vét bùn kết hợp với việc tạo khô hạn để xử lý ra hoa. Vét bùn vào tháng 2-3 dương lịch, lớp bùn dày khoảng 2 cm là tốt nhất. Chú ý: Không được bồi bùn lấp kín mặt gốc cây quýt hồng vì bộ rễ cây vẫn cần không khí để hô hấp trong thời gian xử lý ra hoa.
2/ Trồng cây chắn gió và che mát: Xây dựng hàng cây chắn gió là yêu cầu cấp thiết đối với vườn Quýt hồng, nhằm ngăn chặn sự di chuyển của sâu bệnh theo gió xâm nhập vào vườn, tạo tiểu khí hậu thích hợp trong vườn, hạn chế thiệt hại do gió bão. Các loại cây sử dụng làm cây chắn gió là: dâm bụt, tràm...
3/ Giữ ẩm: Bằng cỏ, rơm rạ và cách gốc khoảng 20 cm nhằm giữ ẩm trong mùa nắng, hạn chế cỏ dại phát triển, đồng thời khi rơm rạ bị phân hủy sẽ là nguồn dinh dưỡng cung cấp cho cây. Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản nên trồng hoa màu để hạn chế đất bị xói mòn, tăng thu nhập. Trong thời kỳ khai thác thì xu hướng hiện nay là quản lý cỏ dại trong vườn chứ không làm sạch cỏ nhằm giữ ẩm cho đất trong mùa nắng và chống xói mòn trong mùa mưa.
4/ Quản lý nước: Chất lượng nước tưới phải đáp ứng các chỉ tiêu 15,16 của phụ lục 4. Mùa nắng nên tưới nước thường xuyên cho cây, nếu thiếu nước sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây, đồng thời phải tạo rảnh thoát nước kịp thời trong mùa mưa để tránh ngập úng. Nên giữ ổn định mực nước luôn cách mặt liếp từ 60 - 80cm.
5/ Quản lý phân bón: Phải đáp ứng các chỉ tiêu 10,11, 12, 13, 14 của phụ lục 4. Nếu nhà vườn tự ủ phân chuồng thì cần xây dựng và đặt bể ủ phân đảm bảo cách ly, không gây ô nhiễm cho vườn trồng và nguồn nước tưới. Không để phân hoá học và phân chuồng tiếp xúc hay dính vào quả trong quá trình bón phân.
6/ Các thời kỳ bón phân: Thời kỳ kiến thiết cơ bản: (cây 1-3 năm tuổi), phân bón được chia làm nhiều đợt (4-6 đợt) để bón cho cây. Sau khi trồng nên dùng phân urê hoặc phân DAP với liều lượng 40g hoà tan trong 10 lít nước để tưới cho cây (2 tháng/lần). Khi cây trên 1 năm tuổi cần bón phân gốc để giúp cây phát triển mạnh. Hàng năm bón phân hữu cơ từ 5 – 10 kg/cây.
7/ Cách bón phân: Cuốc rãnh xung quanh gốc theo hình chiếu tán cây, rãnh sâu 10-15cm, rộng 10-20cm cho phân vào, lấp đất và tưới nước. Phân bón lá nên phun 4-5 lần/vụ quả ở giai đoạn sau khi đậu trái và giai đoạn trái bắt đầu phát triển nhanh, mỗi lần cách nhau 15-20 ngày.
I. KỸ THUẬT TRỒNG:
1/ Đất trồng và chuẩn bị liếp trồng: Để thực hiện quy trình vietgap cần vẽ bản đồ đất cho từng khu vực của 4 xã theo quy hoạch của huyện Lai Vung (Đồng Tháp). Đất trồng: Đất có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, pH khoảng 5,5-7,0, hàm lượng hữu cơ >3%. Đào mương lên liếp: nhằm mục đích nâng cao tầng canh tác và giúp cây không bị ngập úng trong mùa mưa. Mương tưới và tiêu nước có chiều rộng từ 1-2m, chiều ngang liếp từ 5-8m. Vườn phải có đê bao chống lũ triệt để.
2/ Chuẩn bị cây giống: Hiện nay, quýt hồng chủ yếu được trồng bằng nhánh chiết từ cây giống ở địa phương. Nhánh chiết phải chọn từ cây mẹ 5 năm tuổi trở lên, sạch bệnh, cây khỏe, sai trái, trái to và đặc biệt trái phải mang đầy đủ các đặc trưng của giống.
Cây Quýt Hồng
Nông dân trồng quýt hồng ở Lai Vung – Đồng Tháp
3/ Đặt cây con: Chuẩn bị mô, dùng đất mặt ruộng hay đất bãi bồi ven sông phơi khô. Mô có chiều cao 40 – 60 cm, đường kính 60 – 80 cm, đào hố giữa mô, trộn đều đất với 5-10 kg phân chuồng, 1 kg phân Super lân và 0,5 kg vôi cho vào hố trước khi đặt cây con.
Cách đặt cây con: Đặt cây xuống giữa mô, sao cho mặt bầu ngang bằng mặt mô, ém đất xung quanh gốc, cắm cọc giữ cho cây không bị gió làm lung lay và tưới đủ nước. Đánh dấu/ký hiệu cho từng cây và vẽ sơ đồ vườn trồng. Cây con sau khi trồng cần được chăm sóc kỹ, nhằm đảm bảo mật số và độ đồng đều giữa các cây. Thông thường có thể trồng với khoảng cách 3 x 4m hoặc 4 x 4m, tương đương với mật độ từ 600 – 700 cây/ha.
II. CHĂM SÓC:
1/ Vét mương bồi liếp: Có thể vét bùn kết hợp với việc tạo khô hạn để xử lý ra hoa. Vét bùn vào tháng 2-3 dương lịch, lớp bùn dày khoảng 2 cm là tốt nhất. Chú ý: Không được bồi bùn lấp kín mặt gốc cây quýt hồng vì bộ rễ cây vẫn cần không khí để hô hấp trong thời gian xử lý ra hoa.
2/ Trồng cây chắn gió và che mát: Xây dựng hàng cây chắn gió là yêu cầu cấp thiết đối với vườn Quýt hồng, nhằm ngăn chặn sự di chuyển của sâu bệnh theo gió xâm nhập vào vườn, tạo tiểu khí hậu thích hợp trong vườn, hạn chế thiệt hại do gió bão. Các loại cây sử dụng làm cây chắn gió là: dâm bụt, tràm...
3/ Giữ ẩm: Bằng cỏ, rơm rạ và cách gốc khoảng 20 cm nhằm giữ ẩm trong mùa nắng, hạn chế cỏ dại phát triển, đồng thời khi rơm rạ bị phân hủy sẽ là nguồn dinh dưỡng cung cấp cho cây. Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản nên trồng hoa màu để hạn chế đất bị xói mòn, tăng thu nhập. Trong thời kỳ khai thác thì xu hướng hiện nay là quản lý cỏ dại trong vườn chứ không làm sạch cỏ nhằm giữ ẩm cho đất trong mùa nắng và chống xói mòn trong mùa mưa.
4/ Quản lý nước: Chất lượng nước tưới phải đáp ứng các chỉ tiêu 15,16 của phụ lục 4. Mùa nắng nên tưới nước thường xuyên cho cây, nếu thiếu nước sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây, đồng thời phải tạo rảnh thoát nước kịp thời trong mùa mưa để tránh ngập úng. Nên giữ ổn định mực nước luôn cách mặt liếp từ 60 - 80cm.
5/ Quản lý phân bón: Phải đáp ứng các chỉ tiêu 10,11, 12, 13, 14 của phụ lục 4. Nếu nhà vườn tự ủ phân chuồng thì cần xây dựng và đặt bể ủ phân đảm bảo cách ly, không gây ô nhiễm cho vườn trồng và nguồn nước tưới. Không để phân hoá học và phân chuồng tiếp xúc hay dính vào quả trong quá trình bón phân.
6/ Các thời kỳ bón phân: Thời kỳ kiến thiết cơ bản: (cây 1-3 năm tuổi), phân bón được chia làm nhiều đợt (4-6 đợt) để bón cho cây. Sau khi trồng nên dùng phân urê hoặc phân DAP với liều lượng 40g hoà tan trong 10 lít nước để tưới cho cây (2 tháng/lần). Khi cây trên 1 năm tuổi cần bón phân gốc để giúp cây phát triển mạnh. Hàng năm bón phân hữu cơ từ 5 – 10 kg/cây.
7/ Cách bón phân: Cuốc rãnh xung quanh gốc theo hình chiếu tán cây, rãnh sâu 10-15cm, rộng 10-20cm cho phân vào, lấp đất và tưới nước. Phân bón lá nên phun 4-5 lần/vụ quả ở giai đoạn sau khi đậu trái và giai đoạn trái bắt đầu phát triển nhanh, mỗi lần cách nhau 15-20 ngày.
Thứ Tư, 26 tháng 4, 2017
Cách trồng ổi lê trong chậu đơn giản
Lựa chọn đất và chậu trồng
Mặc dù là loại cây không kén đất nhưng tốt hơn hết là bạn nên trồng ổi lê với loại đất tơi xốp, thoáng khí có khả năng thoát nước và giữ ẩm tốt. Mặt khác, nên trộn thêm vào đất phân trùn quế để cây phát triển tốt và rễ cây không bị nấm bệnh tấn công. Theo kinh nghiệm của nhiều người truyền lại thì bạn có thể phối trộn đất trồng gồm có tro trấu, phân trùn quế, xơ dừa và trấu sống theo tỷ lệ là 2:1:0,5:0,5.
Về chậu trồng, bạn nên chọn loại chậu sành hay chậu nhựa DS có kích thước đủ lớn để cây phát triển tốt, phân nhiều cành nhánh và cho trái thường xuyên. Thường thì chậu trồng ổi lê tại nhà sẽ có đường kính khoảng 30 – 40 cm và cao khoảng 35 – 50 cm nhưng bạn có thể chọn chậu càng to càng tốt nhé.
Chọn giống cây ổi lê
Để cây nhanh cho trái, bạn nên chọn cành giống từ phương pháp chiết cành, chỉ mất khoảng 4 – 6 tháng là có thể thu hoạch được. Tuy nhiên, cành giống ổi lê này lại có nhược điểm là nhanh già cỗi vì cành chiết sẽ có tuổi bằng với tuổi của cây mẹ. Còn nếu trồng ổi lê trong chậu từ hạt thì bạn sẽ mất tới tận 3 – 4 năm mới có thể thu hoạch nhưng thời gian thu hoạch lại kéo dài hơn rất nhiều.
Do vậy, tuỳ theo nhu cầu và mục đích trồng, bạn hãy lựa chọn một loại giống phù hợp nhất nhé.
Cách trồng ổi lê trong chậu
Trước tiên, bạn cho đất trộn vào 2/3 chậu, sau đó bỏ lớp nilon bao quanh rễ cây giống rồi đặt cây vào giữa chậu, cho thêm đất và dùng tay nén chặt đất xung quanh gốc. Ngay sau khi trồng, bạn tưới nước rồi đặt chậu cây ở nơi thoáng khí có nhiều ánh sáng tự nhiên để cây có đủ điều kiện phát triển và đơm hoa kết trái. Lưu ý là kê cao đáy chậu, tạo sự thông thoáng để chậu thoát nước, chống ngập úng khi tưới nhé.
Cách chăm sóc cây ổi lê tại nhà
Chăm sóc cây ổi lê cũng giống như chăm sóc nhiều loại cây trồng khác, bao gồm việc tưới tiêu, bón phân, cắt tỉa… Sau đây là một số vấn đề mà bạn cần lưu ý trong quá trình trồng và chăm sóc ổi lê:
- Tưới nước đầy đủ để tạo độ ẩm cho đất, tránh trường hợp để cây khô héo, rụng lá vì thiếu nước.
Sau khi trồng khoảng 15 -20 ngày, cây ổi lê của bạn bắt đầu ra mầm non và đâm nhiều lá mới. Lúc ấy, bạn cần bón bổ sung thêm một thìa cà phê phân NPK 16.16.8 và một thìa canh super lân bằng cách rải xung quanh gốc. Sau khi bón, bạn tưới nước đầy đủ để phân có thể ngấm sâu xuống bên dưới.
- Định kỳ hàng tháng, bạn bón một lớp phân trùn quế dày khoảng 2 – 3 cm trên mặt chậu vào đầu tháng và đến giữa tháng thì bón thêm phân vô cơ nữa. Tuy nhiên, bạn không nên bón các loại phân vô cơ nhiều đạm như SA hay ure thì loại phân này chỉ thúc cây ra lá xanh chứ không ra trái đâu nhé.
- Khi cây ổi bắt đầu ra hoa kết trái nhỏ thì bạn nên loại bỏ 1 trái ở những chùm 2 trái để cây có thể dồn sức nuôi dưỡng cho trái còn lại. Mặt khác, trên mỗi cây ổi lê trồng trong chậu, bạn chỉ để khoảng 3 – 4 trái nằm gần thân chính và loại bỏ những trái còn lại nằm ở ngoài ngọn, nếu không thì quả sẽ dễ bị rụng vì cây không đủ dinh dưỡng để nuôi chúng.
- Sau vài lần thu hoạch, nếu thấy hiện tượng lá mới ra nhỏ dần thì bạn nên cắt tỉa bớt các tán cây không cần thiết, đồng thời bổ sung thêm phân bón để cây phát triển tốt hơn cho đợt trái mới.
Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017
Giảm rụng quả sinh lý cho cây bưởi
Trung và hạ tuần tháng 4 hàng năm với những cây bưởi đậu nhiều quả thường có đợt rụng quả sinh lý. Để hạn chế hiện tượng rụng quả sinh lý, đảm bảo năng suất, chất lượng cao và ổn định cuối vụ bà con cần áp dụng một số biện pháp kỹ thuật sau.
Tưới nước đủ ẩm cho bưởi: Giai đoạn này quả đang lớn rất nhanh, tưới tràn hay tưới hốc đạt độ ẩm 70-75% độ ẩm đất ít nhất xung quanh tán bưởi. Nếu trời không mưa cần tưới định kỳ 10-15ngày/lần, phủ quanh tán cây bằng nylon hay xác hữu cơ để hạn chế bốc hơi nước. Gặp khô hạn, các loại phân khoáng, phân trung vi lượng hòa tan chậm, rễ cây hút dinh dưỡng kém. Cây thiếu nước sẽ thiếu dinh dưỡng sinh ra tầng rời ở cuống quả, gây rụng quả sinh lý.
Cung cấp đủ dinh dưỡng: Thời kỳ này bưởi cần rất nhiều dinh dưỡng đặc biệt là kali và các nguyên tố vi lượng để tổng hợp và vận chuyển chất hữu cơ về quả, chống hiện tượng hình thành tầng rời gây rụng quả non. Việc cung cấp phân khoáng vi lượng hợp lý cho bưởi cần căn cứ vào tuổi của cây, mức độ say của quả và chế độ dinh dưỡng của cây biểu hiện qua màu sắc của tán lá.
Lá có màu xanh đen biểu hiện cây thừa đạm cần bón thêm phân kali. Liều lượng 1-3kg/cây, bón dưới hình chiếu của tán lá, bón thành 4 hốc quanh tán cây, bón sâu 7-10cm.
Lá có màu xanh nhạt, xanh vàng bón phân NPK (12:5:10); NPK (13:13:13) hoặc đạm: kali tỷ lệ 1:1. Liều lượng: 2-5kg NPK hoặc 0,5-2kg đạm ure + 0,5-2kg kali clorua.
Lá có màu xanh trung bình (xanh màu lá chuối bánh tẻ). Bón phân với tỷ lệ 1đạm: 2kali. Liều lượng 0,5-2kg đạm ure + 1-4kg kali clorua.
Bổ sung các nguyên tố vi lượng cho bưởi dưới dạng phun các loại phân bón lá giàu vi lượng cho hiệu quả cao: Sử dụng sản phẩm Vườn sinh thái cho bưởi 10-15ngày/lần giúp bưởi mau lớn ít rụng quả, chống sâu, bệnh, tăng năng suất chất lượng quả, giảm 30% lượng phân bón. Có thể dùng một trong các chế phẩm: Bio-Plant; A-H503; Atonic; Nông Trang 001 hoặc K-H502 kết hợp với Multy-K + chất bám dính phun cho bưởi 1-2 lần, mỗi lần cách nhau 10 ngày vào thời kỳ này cũng làm giảm quá trình rụng quả sinh lý, tăng năng suất chất lượng quả cuối vụ.
Phòng trừ tốt một số sâu bệnh chính: Ruồi (dòi) vàng đục quả, thường đẻ trứng trên lỗ chích, vết thương vỏ quả, sâu non đục vào bên trong gây thối và rụng quả. Dùng một trong các loại bẫy: Pheromone; bẫy Sofriprotein; bãy Metin ơgienon; bẫy VijubonD để diệt ruồi.
Nhện đỏ, nhện trắng làm giám quả, da quả sần sùi, quả còi cọc và rụng nhiều nếu mật độ nhện cao. Sử dụng một trong các loại thuốc trừ nhện: Danilol 10EC; Pegasus 500EC; Otus 5EC… phun cho bưởi 2 lần, mỗi lần cách nhau 7-10 ngày từ lúc trái bưởi bằng hòn bi (đường kính quả 0,5cm).
Trên cây có bọ xít hại quả non với mật độ cao cần dùng một trong các loại thuốc: SeSaiGon 50EC; Confidor 70WG; Sutin 5EC hoặc Oshin 20WP… phun trừ khi bọ xít còn non (tuổi nhỏ). Nếu có nhiều bọ xít trưởng thành cần tăng nồng độ thuốc lên 2lần so với hướng dẫn trên bao bì sản phẩm.
Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017
Kỹ huật trồng cây hồng xiêm năng suất cao
Hồng xiêm là loại thân gỗ, trồng trên cả 3 miền của nuớc ta, dễ trồng, không kén đất. ít sâu bệnh, chịu được úng. Quả chín có hương vị thơm ngon, rất thích hợp cho người bị đau dạ dày, người già và trẻ em.
1. Kỹ thuật trồng và chăm sóc.
Trồng Hồng Xiêm vào đầu mùa mưa cây dễ sống, không trồng cây trần mà trồng có cả bầu.
Đào hố trước 1-2 tháng để cho đất ải.
Kích thước hố 70x70cm sâu 60cm. Khoảng cách hố 8-10m. Cây mới trồng cần được tưới giữ ẩm thường xuyên.
Tưới phân lợn đã ngâm ủ pha với nước có nồng độ tăng dần theo sức phát triển cuả cây, tỉ lệ phân/nước lã: 1/10 đến 1/3,5. Khi cây vào thời kỳ cho nhiều quả cần bón phân chuồng 60-100 kg/cây, urê 0,6-1 kg/cây, lân 1 kg/cây và kali 1 kg/cây.
Bón phân bằng cách đào rãnh sâu 30cm, rộng 30-40cm theo tán cây. Cho toàn bộ phân chuồng, lân và kali, lấp kín đất. Số phân đạm và kali còn lại dùng bón thúc. Bón thích hợp nhất là vào tháng 2, 3 và 6, 7 và bón sau thu hoạch quả. Nên dùng bùn ao phơi khô bón vào gốc.
Phòng trừ sâu hại hoa, quả non, búp non bằng Bi 58 phun dung dịch nồng độ 1/1000 đến 2/1000 (dùng 1 đến 2 lọ penicilin thuốc pha vào bình 10 lít nước, phun ướt đẫm lá). Phòng dơi ăn quả bằng cách giăng lưới vào chập tối và ban đêm.
2. Thu hoạch và ủ quả.
Khi cuống quả nhỏ lại, tai quả vểnh lên (lá dài vểnh lên không dính sát vào quả), lớp phấn nâu xám ngoài quả rạn nứt và bong ra ngoài, vỏ quả chuyển sang màu xanh vàng và nhẵn., khi đó thịt quả chuyển sang màu nâu vàng là lúc hái đem ủ. Ngâm quả trong nước độ 30 phút hoặc ngâm trong nước vôi trong sau đó lấy giẻ lau ướt sạch phấn ở vỏ quả và nhựa ở cuống quả rồi hong khô nơi thoáng gió. Cho vào thùng hoặc chum vại có lót rơm xung quanh, đốt 1 nén hương rồi đậy kín lại. Mùa hè ủ 2 ngày với 2 lần thắp hương. Mùa đông không cần ngâm nước mà chỉ lau sạch phấn ngoài vỏ quả. Khi ủ phải đảm bảo ấm xung quanh. ủ mùa đông phải mất 4-5 ngày và thắp 4 hướng mới chín. Mỗi lần thắp 7-10 nén hương.
1. Kỹ thuật trồng và chăm sóc.
Trồng Hồng Xiêm vào đầu mùa mưa cây dễ sống, không trồng cây trần mà trồng có cả bầu.
Đào hố trước 1-2 tháng để cho đất ải.
Kích thước hố 70x70cm sâu 60cm. Khoảng cách hố 8-10m. Cây mới trồng cần được tưới giữ ẩm thường xuyên.
Tưới phân lợn đã ngâm ủ pha với nước có nồng độ tăng dần theo sức phát triển cuả cây, tỉ lệ phân/nước lã: 1/10 đến 1/3,5. Khi cây vào thời kỳ cho nhiều quả cần bón phân chuồng 60-100 kg/cây, urê 0,6-1 kg/cây, lân 1 kg/cây và kali 1 kg/cây.
Bón phân bằng cách đào rãnh sâu 30cm, rộng 30-40cm theo tán cây. Cho toàn bộ phân chuồng, lân và kali, lấp kín đất. Số phân đạm và kali còn lại dùng bón thúc. Bón thích hợp nhất là vào tháng 2, 3 và 6, 7 và bón sau thu hoạch quả. Nên dùng bùn ao phơi khô bón vào gốc.
Phòng trừ sâu hại hoa, quả non, búp non bằng Bi 58 phun dung dịch nồng độ 1/1000 đến 2/1000 (dùng 1 đến 2 lọ penicilin thuốc pha vào bình 10 lít nước, phun ướt đẫm lá). Phòng dơi ăn quả bằng cách giăng lưới vào chập tối và ban đêm.
2. Thu hoạch và ủ quả.
Khi cuống quả nhỏ lại, tai quả vểnh lên (lá dài vểnh lên không dính sát vào quả), lớp phấn nâu xám ngoài quả rạn nứt và bong ra ngoài, vỏ quả chuyển sang màu xanh vàng và nhẵn., khi đó thịt quả chuyển sang màu nâu vàng là lúc hái đem ủ. Ngâm quả trong nước độ 30 phút hoặc ngâm trong nước vôi trong sau đó lấy giẻ lau ướt sạch phấn ở vỏ quả và nhựa ở cuống quả rồi hong khô nơi thoáng gió. Cho vào thùng hoặc chum vại có lót rơm xung quanh, đốt 1 nén hương rồi đậy kín lại. Mùa hè ủ 2 ngày với 2 lần thắp hương. Mùa đông không cần ngâm nước mà chỉ lau sạch phấn ngoài vỏ quả. Khi ủ phải đảm bảo ấm xung quanh. ủ mùa đông phải mất 4-5 ngày và thắp 4 hướng mới chín. Mỗi lần thắp 7-10 nén hương.
Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017
Trồng dưa hấu tí hon
Dưa hấu chuột là một loại cây vô cùng đặc biệt với vỏ ngoài màu xanh như dưa hấu, kích thước nhỏ xinh như quả nho, bổ ra bên trong lại giống dưa chuột, còn vị lại chua man mát như chanh.
Dưa hấu tí hon
Bằng chính sự độc đáo của nó, dưa hấu tí hon nhanh chóng được ưa thích sau khi du nhập vào châu Âu ở thế kỉ thứ 13. Từ đó, dưa hấu tí hon trở thành đặc sản và được bán khắp châu Âu. Cây có nhiều công dụng như cây để làm cảnh, quả dùng để ăn, ngoài ra còn có tác dụng nhuận tràng. Quả dưa hấu chuột hay được dùng cho các món khai vị, salad…
Các chị em đã thử trồng dưa hấu tí hon cho biết: cây dưa hấu chuột phát triển tốt trong môi trường khí hậu mùa thu Việt Nam – nắng và se se lạnh. Hiện nay, ở Việt Nam, bạn có thể đặt mua hạt dưa hấu chuột tại các shop online.
Hãy cùng bắt tay vào trồng dưa hấu tí hon để làm xanh mát thêm cho ngôi nhà của bạn nhé!
Chuẩn bị:
Dưa hấu cho nhiều quả
– Đất trồng: Cây thích hợp mọi loại đất nhưng thích hợp nhất là trồng trên loại đất có nhiều mùn thì cây sẽ phát triển tốt nhất và cho quả nhiều nhất. Bạn thêm vào phân trùn quế để tăng độ tơi xốp cho đất. Trong phân trùn quế có chứa hàm lượng mùn khá cao và là phân hữu cơ sẽ rất có lợi cho cây.
Phân trùn quế SFarm
– Chậu: Cây dưa hấu chuột phát triển tốt trong cả chậu hoặc thùng xốp. Khi trồng, bạn chú ý khoảng cách giữa các hạt ít nhất 15cm.
– Hạt, giàn leo, phân hữu cơ.
Cách trồng:
– Giữ ấm hạt trong các giá thể (có thể là tro trấu, mạt dừa v.v) khoảng 4 đến 9 ngày và tưới một ít nước hàng ngày. Sau 4-9 ngày, khi hạt bắt đầu nẩy mầm thì tiếp tục tưới nước ở nhiệt độ 18oC – 21oC đến khi ra bốn lá thì bắt đầu đưa vào trồng trong đất đã trộn phân trùn quế Pb02.
– Dưa hấu chuột không khó trồng và chăm sóc. Trồng dưa hấu tí hon không khác so với cách trồng dưa leo, thậm chí, dưa hấu chuột chịu hạn và chịu lạnh tốt hơn nhiều. Bạn không cần phải lo lắng về sâu bệnh, khi mùa đông khắc nghiệt, cũng như phải am hiểu các kĩ thuật cắt tỉa phức tạp.
– Bạn cần làm giàn chắc chắn vì là cùng họ cây nho nên tuổi thọ của dưa hấu chuột khá dài. Có thể tận dụng trồng cạnh các hàng rào, cây sẽ tự bám vào và leo rất nhanh. Ngoài ra, cây dưa hấu chuột cũng phát triển tốt trong nhà miễn là có đủ ánh sáng và nhiệt độ, nên có thể trồng ở bên cạnh một cửa sổ lớn để mang lại vẻ xanh mát cho phòng khách nhà bạn.
Chăm sóc:
– Cây sẽ mất 15 ngày để phát triển đầy đủ bộ rễ, trong thời gian này bạn nên chú ý nhiều đến độ ẩm của đất. Trong điều kiện bị ngập úng, cây sẽ chậm phát triển. Ban cũng không cần tưới nước thường xuyên, cây có thể chịu được nắng và có thể không cần tưới từ 2 đến 3 ngày. Một cây dưa hấu chuột khi trưởng thành có chiều ngang từ 10 -15cm, và cao từ 1,2 -1,5m.
– Cây bắt đầu có hoa từ ngày thứ 45 đến 60. Cây cho trái quanh năm, khoảng 3 đến 4 ngày là bạn có thể thu hoạch 1 đợt. Theo như các chị em chia sẻ, mỗi cây trồng trong chậu cảnh sẽ cho ít nhất 4kg trái/năm.
Dưa hấu tí hon
Bằng chính sự độc đáo của nó, dưa hấu tí hon nhanh chóng được ưa thích sau khi du nhập vào châu Âu ở thế kỉ thứ 13. Từ đó, dưa hấu tí hon trở thành đặc sản và được bán khắp châu Âu. Cây có nhiều công dụng như cây để làm cảnh, quả dùng để ăn, ngoài ra còn có tác dụng nhuận tràng. Quả dưa hấu chuột hay được dùng cho các món khai vị, salad…
Hãy cùng bắt tay vào trồng dưa hấu tí hon để làm xanh mát thêm cho ngôi nhà của bạn nhé!
Chuẩn bị:
Dưa hấu cho nhiều quả
– Đất trồng: Cây thích hợp mọi loại đất nhưng thích hợp nhất là trồng trên loại đất có nhiều mùn thì cây sẽ phát triển tốt nhất và cho quả nhiều nhất. Bạn thêm vào phân trùn quế để tăng độ tơi xốp cho đất. Trong phân trùn quế có chứa hàm lượng mùn khá cao và là phân hữu cơ sẽ rất có lợi cho cây.
Phân trùn quế SFarm
– Chậu: Cây dưa hấu chuột phát triển tốt trong cả chậu hoặc thùng xốp. Khi trồng, bạn chú ý khoảng cách giữa các hạt ít nhất 15cm.
– Hạt, giàn leo, phân hữu cơ.
Cách trồng:
– Giữ ấm hạt trong các giá thể (có thể là tro trấu, mạt dừa v.v) khoảng 4 đến 9 ngày và tưới một ít nước hàng ngày. Sau 4-9 ngày, khi hạt bắt đầu nẩy mầm thì tiếp tục tưới nước ở nhiệt độ 18oC – 21oC đến khi ra bốn lá thì bắt đầu đưa vào trồng trong đất đã trộn phân trùn quế Pb02.
– Dưa hấu chuột không khó trồng và chăm sóc. Trồng dưa hấu tí hon không khác so với cách trồng dưa leo, thậm chí, dưa hấu chuột chịu hạn và chịu lạnh tốt hơn nhiều. Bạn không cần phải lo lắng về sâu bệnh, khi mùa đông khắc nghiệt, cũng như phải am hiểu các kĩ thuật cắt tỉa phức tạp.
– Bạn cần làm giàn chắc chắn vì là cùng họ cây nho nên tuổi thọ của dưa hấu chuột khá dài. Có thể tận dụng trồng cạnh các hàng rào, cây sẽ tự bám vào và leo rất nhanh. Ngoài ra, cây dưa hấu chuột cũng phát triển tốt trong nhà miễn là có đủ ánh sáng và nhiệt độ, nên có thể trồng ở bên cạnh một cửa sổ lớn để mang lại vẻ xanh mát cho phòng khách nhà bạn.
Chăm sóc:
– Cây sẽ mất 15 ngày để phát triển đầy đủ bộ rễ, trong thời gian này bạn nên chú ý nhiều đến độ ẩm của đất. Trong điều kiện bị ngập úng, cây sẽ chậm phát triển. Ban cũng không cần tưới nước thường xuyên, cây có thể chịu được nắng và có thể không cần tưới từ 2 đến 3 ngày. Một cây dưa hấu chuột khi trưởng thành có chiều ngang từ 10 -15cm, và cao từ 1,2 -1,5m.
– Cây bắt đầu có hoa từ ngày thứ 45 đến 60. Cây cho trái quanh năm, khoảng 3 đến 4 ngày là bạn có thể thu hoạch 1 đợt. Theo như các chị em chia sẻ, mỗi cây trồng trong chậu cảnh sẽ cho ít nhất 4kg trái/năm.
Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017
Kỹ thuật trồng, chăm sóc thanh long vụ nghịch
1. Đặc điểm chung - Thanh long là cây nhiệt đới, thích hợp khí hậu nắng nóng, chịu hạn giỏi, không chịu được úng. - Thanh long là cây thân bó cần có trụ đỡ, sau khi trồng 2-3 năm sẽ cho trái. - Thanh long có thể trồng trên đất xám, đất phù sa, đất đỏ và đất phèn, nhưng yêu cầu đất phải thoát nước tốt.
- Giống thanh long tốt và phổ biến hiện nay ở nước ta là thanh long ruột trắng. Thanh long ruột đỏ và ruột vàng cũng đang phổ biến, nhưng giống thanh long ruột trắng sinh trưởng mạnh hơn, trái to và ngọt hơn so với giống ruột đỏ và ruột vàng.
- Các vùng trồng thanh long chủ yếu hiện nay là Tiền Giang, Long An, Bình Thuận với diện tích lên khoảng trên 10.000 ha.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
- Thời vụ trồng:
+ Đối với vùng có điều kiện tưới tiêu tốt: trồng vào khoảng tháng 10-11 dương lịch
+ Đối với vùng thiếu nước tưới: nên trồng vào đầu mùa mưa.
- Mật độ trồng: thích hợp từ 1.200 -1.300 trụ/ha (khoảng 2,8m x 3,0m)
- Tỉa cành: đây là khâu rất quan trọng đối với thanh long kinh doanh, bao gồm 3 giai đoạn như sau:
+ Tỉa đau: sau đợt thu hoạch trái hoặc ngay trước lúc thu đợt trái cuối cùng, tỉa bỏ 2/3 số cành già, cành ốm yếu, sâu bệnh.
+ Tỉa lựa: tỉa thường xuyên trong quá trình chăm sóc, bón phân thúc cho thanh long, lựa bỏ ngay những cành ốm yếu, sâu bệnh.
+ Tỉa sửa cành: khi cây đã cho trái ổn định, trên các cành vẫn tiếp tục mọc cành non, cần tỉa bỏ những cành này để cây tập trung dinh dưỡng nuôi trái.
- Tưới nước và tủ gốc:
+ Đối với thanh long trồng ở các vùng khô hạn như Bình Thuận, hoặc trong mùa nắng khi chúng ta xử lý thanh long nghịch vụ thì việc tưới nước và tủ gốc rất quan trọng để giúp thanh long phát triển tốt và cho hiệu quả ra hoa cao khi chong đèn. Tùy theo ẩm độ đất và kết cấu của đất mà cường độ tưới thường từ 3-7 ngày/lần.
- Xử lý ra hoa và chăm sóc trái:
+ Có nhiều biện pháp xử lý ra hoa nghịch vụ nhưng biện pháp thắp đèn là hiệu quả nhất.
+ Thời gian thắp sáng liên tục từ 15-20 đêm tùy theo mùa và điều kiện thời tiết, thời gian thắp đèn từ 7-10 giờ/đêm. Sau khi ngưng thắp đèn 3-5 ngày thì cây ra hoa. Từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 52-54 ngày.
+ Trước khi thắp đèn 1 tuần cần phải bón phân đón hoa có tỷ lệ lân và kali cao, khi bắt đầu thắp đèn thì xử lý thêm phân Krista-MKP với liều 100- 200 g/trụ để đạt tỷ lệ ra hoa cao nhất.
- Quy trình bón phân:
Khi thanh long đã vào giai đoạn cho quả (giai đoạn kinh doanh) thì cần bón phân hữu cơ hàng năm với lượng khoảng 10-15kg/trụ/năm.
- Bón thúc như sau:
+ Khi tỉa cành: 0,3-0,5kg (NPK 30-20-5)/trụ + 0,25kg (Nitrabor)/trụ
+ Trước ra hoa (7 ngày trước khi thắp đèn): 0,3-0,5kg (NPK 13-13-20)/ trụ + 0,10kg (Nitrabor)/trụ
+ Sau mỗi lứa quả: 0,15-0,20kg (NPK 15-9-20)/ trụ + 0,05-0,10kg (Nitrabor)/ trụ
* Chú ý: Kết hợp phun MgNO3: 50g/10 lít nước ở giai đoạn tỉa cành để kích thích cành mới mau ra và hạn chế nám cành trong mùa nắng.
- Giống thanh long tốt và phổ biến hiện nay ở nước ta là thanh long ruột trắng. Thanh long ruột đỏ và ruột vàng cũng đang phổ biến, nhưng giống thanh long ruột trắng sinh trưởng mạnh hơn, trái to và ngọt hơn so với giống ruột đỏ và ruột vàng.
- Các vùng trồng thanh long chủ yếu hiện nay là Tiền Giang, Long An, Bình Thuận với diện tích lên khoảng trên 10.000 ha.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
- Thời vụ trồng:
+ Đối với vùng có điều kiện tưới tiêu tốt: trồng vào khoảng tháng 10-11 dương lịch
+ Đối với vùng thiếu nước tưới: nên trồng vào đầu mùa mưa.
- Mật độ trồng: thích hợp từ 1.200 -1.300 trụ/ha (khoảng 2,8m x 3,0m)
- Tỉa cành: đây là khâu rất quan trọng đối với thanh long kinh doanh, bao gồm 3 giai đoạn như sau:
+ Tỉa đau: sau đợt thu hoạch trái hoặc ngay trước lúc thu đợt trái cuối cùng, tỉa bỏ 2/3 số cành già, cành ốm yếu, sâu bệnh.
+ Tỉa lựa: tỉa thường xuyên trong quá trình chăm sóc, bón phân thúc cho thanh long, lựa bỏ ngay những cành ốm yếu, sâu bệnh.
+ Tỉa sửa cành: khi cây đã cho trái ổn định, trên các cành vẫn tiếp tục mọc cành non, cần tỉa bỏ những cành này để cây tập trung dinh dưỡng nuôi trái.
- Tưới nước và tủ gốc:
+ Đối với thanh long trồng ở các vùng khô hạn như Bình Thuận, hoặc trong mùa nắng khi chúng ta xử lý thanh long nghịch vụ thì việc tưới nước và tủ gốc rất quan trọng để giúp thanh long phát triển tốt và cho hiệu quả ra hoa cao khi chong đèn. Tùy theo ẩm độ đất và kết cấu của đất mà cường độ tưới thường từ 3-7 ngày/lần.
- Xử lý ra hoa và chăm sóc trái:
+ Có nhiều biện pháp xử lý ra hoa nghịch vụ nhưng biện pháp thắp đèn là hiệu quả nhất.
+ Thời gian thắp sáng liên tục từ 15-20 đêm tùy theo mùa và điều kiện thời tiết, thời gian thắp đèn từ 7-10 giờ/đêm. Sau khi ngưng thắp đèn 3-5 ngày thì cây ra hoa. Từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 52-54 ngày.
+ Trước khi thắp đèn 1 tuần cần phải bón phân đón hoa có tỷ lệ lân và kali cao, khi bắt đầu thắp đèn thì xử lý thêm phân Krista-MKP với liều 100- 200 g/trụ để đạt tỷ lệ ra hoa cao nhất.
- Quy trình bón phân:
Khi thanh long đã vào giai đoạn cho quả (giai đoạn kinh doanh) thì cần bón phân hữu cơ hàng năm với lượng khoảng 10-15kg/trụ/năm.
- Bón thúc như sau:
+ Khi tỉa cành: 0,3-0,5kg (NPK 30-20-5)/trụ + 0,25kg (Nitrabor)/trụ
+ Trước ra hoa (7 ngày trước khi thắp đèn): 0,3-0,5kg (NPK 13-13-20)/ trụ + 0,10kg (Nitrabor)/trụ
+ Sau mỗi lứa quả: 0,15-0,20kg (NPK 15-9-20)/ trụ + 0,05-0,10kg (Nitrabor)/ trụ
* Chú ý: Kết hợp phun MgNO3: 50g/10 lít nước ở giai đoạn tỉa cành để kích thích cành mới mau ra và hạn chế nám cành trong mùa nắng.
Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017
Cây na thái không hột
Cây Na Thái Lan là giống Na mới có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt và có khả năng chịu sâu bệnh tốt, chịu úng chịu hạn cao.và phù hợp với khí hậu miền bắc nước ta.
Giống Na Thái ưa đất thoáng, không nên trồng ở đất thấp úng. Bón phân thích hợp nhất là phân chuồng hoai mục và nhất là tăn lượng kali bón cho cây khi trái gần chín
Trọng lượng trái từ 0,5kg đến 1kg.Tỷ lệ hạt rất ít (chiếm khoảng 20% đến 30% hạt so với giống na dai hiện có ở việt nam) Không chỉ quả to, mã đẹp mà Na Thái còn có vị thơm, ngọt đậm. Loại quả này rất được ưa chuộng vì quả to, vị ngọt, biếu nhìn rất đẹp mắt mà để ăn thì cũng dôi hơn rất nhiều so với na thường. Bởi đối với na thường, 10 quả mới được 1 kg nhưng nhiều vỏ và cuống trong khi na Thái quả to, thịt dày và ít hạt
Cay Na Thai 5
2 . Đặc Điểm Cây Giống Na Thái Không Hạt
- Cây giống Na Thái Không Hạt được nhân giống bằng phương pháp nhân vô tính hình thức ghép cành hoặc ghép mắt
- Cây giống Na Thái Không Hạt có chiều cao mắt ghép khoảng 15-20cm , gốc ghép to đường kính 0,7-1,5 cm
- Cây giống có mắt ghép được tuyển chọn từ cây mẹ đang cho cho thu hoạch chất lượng đảm bảo quả to tròn đều,
Giống Na Thái ưa đất thoáng, không nên trồng ở đất thấp úng. Bón phân thích hợp nhất là phân chuồng hoai mục và nhất là tăn lượng kali bón cho cây khi trái gần chín
Trọng lượng trái từ 0,5kg đến 1kg.Tỷ lệ hạt rất ít (chiếm khoảng 20% đến 30% hạt so với giống na dai hiện có ở việt nam) Không chỉ quả to, mã đẹp mà Na Thái còn có vị thơm, ngọt đậm. Loại quả này rất được ưa chuộng vì quả to, vị ngọt, biếu nhìn rất đẹp mắt mà để ăn thì cũng dôi hơn rất nhiều so với na thường. Bởi đối với na thường, 10 quả mới được 1 kg nhưng nhiều vỏ và cuống trong khi na Thái quả to, thịt dày và ít hạt
Cay Na Thai 5
2 . Đặc Điểm Cây Giống Na Thái Không Hạt
- Cây giống Na Thái Không Hạt được nhân giống bằng phương pháp nhân vô tính hình thức ghép cành hoặc ghép mắt
- Cây giống Na Thái Không Hạt có chiều cao mắt ghép khoảng 15-20cm , gốc ghép to đường kính 0,7-1,5 cm
- Cây giống có mắt ghép được tuyển chọn từ cây mẹ đang cho cho thu hoạch chất lượng đảm bảo quả to tròn đều,
Thứ Tư, 19 tháng 4, 2017
Kĩ Thuật Trồng Cam Ruột Đỏ Không Hạt
1.1. Về địa hình và đất đai:
Khi chọn địa điểm trồng cần chú ý những yếu tố chủ yếu như: Đất đồi hoặc đất dốc tụ, đất có độ phù sa cao, tầng đất dày, tơi xốp và dễ thoát nước. Đất úng ngập, bí chặt, tầng đất mỏng không phù hợp với trồng cam cara cara.
1.2. Kỹ thuật trồng:
+ Thời vụ trồng: Từ tháng 4 đến tháng 9.
+ Kích thước hố: 40cm x 40cm x 40cm. Khoảng cách cây cách cây 4m, hàng cách hàng 4m. Trong quá trình trồng có thể trồng xen ổi để ngăn chặn rầy Diaphorina xâm nhập, truyền bệnh vàng lá greening cho cây cam vì trong ổi có nhiều tinh dầu có khả năng xua đuổi loài côn trùng gây hại này.
+ Kỹ thuật trồng: Đào lại ở giữa hố đã lấp một hố nhỏ, sâu và rộng hơn bầu cây con. Đặt cây ngay ngắn giữa hố và lấp đất cao hơn bầu 3-5 cm, nén đất chặt rồi tưới nước.
2. Kỹ thuật chăm sóc cam cara cara năm thứ 1:
- Tưới nước giữ ẩm: Trong thời gian mới trồng, mỗi ngày tưới nước một lần để đất thường xuyên có độ ẩm 70%. Về sau, tùy độ ẩm của đất có thể tiến hành tưới từ 3 đến 5 ngày một lần. Để hạn chế có dại và côn trùng gây hại nên dùng kỹ thuật màng phủ trên mặt đất. Nếu gặp nắng hạn kéo dài thì phải tăng cường thêm các biện pháp ủ gốc giữ ẩm cho cây bằng rơm rạ, lá cây.
- Kỹ thuật bón phân:
+ Phân bón lót: 10 kg phân chuồng + 0.5 kg phân lân + 0.5 kg vôi bột. Lấp hố trước khi trồng khoảng 15-20 ngày.
Trộn đều lượng phân trên với lớp đất mặt và lớp đất giữa. Trả lớp đất dưới xuống hố, tiếp đó lấp phân và đất đã trộn xuống hố, dùng cuốc phá thành hố sau đó rải vôi lên mặt hố và lớp đất mỏng 2-3 cm. Bơm nước vào đầu hố sau đó dùng cuốc đảo, sau 15 đến 20 ngày là trồng được.
+ Phân bón thúc lần 1 vào tháng 3-4 gồm: 0.2 kg đạm + 0.5 kg lân + 0.2 kg kali/1 hố.
+ Phân bón thúc lần 2 vào tháng 8-9: 0.2 kg đạm + 0.5 kg kali/1 hố.
Phun thuốc trừ sâu vẽ bùa, rệp sáp và rầy hàng tháng.
3. Kỹ thuật chăm sóc cam cara cara năm thứ 2,3:
- Tưới nước giữ ẩm: Thường xuyên tưới nước, giữ ẩm cho cây. Nếu gặp nắng hạn kéo dài thì phải tăng cường thêm các biện pháp ủ gốc bằng rơm rạ, lá cây. Nếu mưa nhiều gây ứ đọng nước phải khơi thông dòng chảy giúp tiêu thoát nhanh, tránh ngập úng.
- Xới đất làm cỏ: Thường xuyên làm sạch cỏ và trồng cây xen canh che phủ đất, giữ ẩm, hạn chế cỏ dại.
- Tạo tán: Khi chồi mắt ghép cao 30-40 cm thì bấm ngọn tạo cành cấp 1. Khi cành cấp 1 cao 30-40 cm thì bấm ngọn tạo cành cấp 2, từ các cành này mọc ra cành cấp 3. Nên để 3-4 cành cấp 1, 6-8 cành cấp 2 và 12-16 cành cấp 3 để cho cây có tán hình mâm xôi, cây thấp dễ chăm sóc.
Thời kỳ đậu quả 1-2 tuần: phun bổ sung chất dinh dưỡng và nguyên tố vi lượng.
Hàng năm tiến hành 2 đợt bón phân. Công thức bón cho 1 hố: 15 kg phân chuồng + 0.5 đạm + 1.0 kg lân. Chia làm 2 lần như sau:
+ Bón vào tháng 4-5 gồm: 15kg phân chuồng + 50% đạm + 50% lân + 100% kali.
+ Bón vào tháng 8-9 gồm: 50% đạm + 50% lân.
Trộn đều các loại phân hóa học rải đều trong vòng tán cây, đảo sâu 4-5 cm, vùi đất kín, ủ rơm rạ giữ ẩm. Phun thuốc trừ sâu vẽ bùa, rệp sáp và rầy hàng tháng.
Khi chọn địa điểm trồng cần chú ý những yếu tố chủ yếu như: Đất đồi hoặc đất dốc tụ, đất có độ phù sa cao, tầng đất dày, tơi xốp và dễ thoát nước. Đất úng ngập, bí chặt, tầng đất mỏng không phù hợp với trồng cam cara cara.
1.2. Kỹ thuật trồng:
+ Thời vụ trồng: Từ tháng 4 đến tháng 9.
+ Kích thước hố: 40cm x 40cm x 40cm. Khoảng cách cây cách cây 4m, hàng cách hàng 4m. Trong quá trình trồng có thể trồng xen ổi để ngăn chặn rầy Diaphorina xâm nhập, truyền bệnh vàng lá greening cho cây cam vì trong ổi có nhiều tinh dầu có khả năng xua đuổi loài côn trùng gây hại này.
+ Kỹ thuật trồng: Đào lại ở giữa hố đã lấp một hố nhỏ, sâu và rộng hơn bầu cây con. Đặt cây ngay ngắn giữa hố và lấp đất cao hơn bầu 3-5 cm, nén đất chặt rồi tưới nước.
2. Kỹ thuật chăm sóc cam cara cara năm thứ 1:
- Tưới nước giữ ẩm: Trong thời gian mới trồng, mỗi ngày tưới nước một lần để đất thường xuyên có độ ẩm 70%. Về sau, tùy độ ẩm của đất có thể tiến hành tưới từ 3 đến 5 ngày một lần. Để hạn chế có dại và côn trùng gây hại nên dùng kỹ thuật màng phủ trên mặt đất. Nếu gặp nắng hạn kéo dài thì phải tăng cường thêm các biện pháp ủ gốc giữ ẩm cho cây bằng rơm rạ, lá cây.
- Kỹ thuật bón phân:
+ Phân bón lót: 10 kg phân chuồng + 0.5 kg phân lân + 0.5 kg vôi bột. Lấp hố trước khi trồng khoảng 15-20 ngày.
Trộn đều lượng phân trên với lớp đất mặt và lớp đất giữa. Trả lớp đất dưới xuống hố, tiếp đó lấp phân và đất đã trộn xuống hố, dùng cuốc phá thành hố sau đó rải vôi lên mặt hố và lớp đất mỏng 2-3 cm. Bơm nước vào đầu hố sau đó dùng cuốc đảo, sau 15 đến 20 ngày là trồng được.
+ Phân bón thúc lần 1 vào tháng 3-4 gồm: 0.2 kg đạm + 0.5 kg lân + 0.2 kg kali/1 hố.
+ Phân bón thúc lần 2 vào tháng 8-9: 0.2 kg đạm + 0.5 kg kali/1 hố.
Phun thuốc trừ sâu vẽ bùa, rệp sáp và rầy hàng tháng.
3. Kỹ thuật chăm sóc cam cara cara năm thứ 2,3:
- Tưới nước giữ ẩm: Thường xuyên tưới nước, giữ ẩm cho cây. Nếu gặp nắng hạn kéo dài thì phải tăng cường thêm các biện pháp ủ gốc bằng rơm rạ, lá cây. Nếu mưa nhiều gây ứ đọng nước phải khơi thông dòng chảy giúp tiêu thoát nhanh, tránh ngập úng.
- Xới đất làm cỏ: Thường xuyên làm sạch cỏ và trồng cây xen canh che phủ đất, giữ ẩm, hạn chế cỏ dại.
- Tạo tán: Khi chồi mắt ghép cao 30-40 cm thì bấm ngọn tạo cành cấp 1. Khi cành cấp 1 cao 30-40 cm thì bấm ngọn tạo cành cấp 2, từ các cành này mọc ra cành cấp 3. Nên để 3-4 cành cấp 1, 6-8 cành cấp 2 và 12-16 cành cấp 3 để cho cây có tán hình mâm xôi, cây thấp dễ chăm sóc.
Thời kỳ đậu quả 1-2 tuần: phun bổ sung chất dinh dưỡng và nguyên tố vi lượng.
Hàng năm tiến hành 2 đợt bón phân. Công thức bón cho 1 hố: 15 kg phân chuồng + 0.5 đạm + 1.0 kg lân. Chia làm 2 lần như sau:
+ Bón vào tháng 4-5 gồm: 15kg phân chuồng + 50% đạm + 50% lân + 100% kali.
+ Bón vào tháng 8-9 gồm: 50% đạm + 50% lân.
Trộn đều các loại phân hóa học rải đều trong vòng tán cây, đảo sâu 4-5 cm, vùi đất kín, ủ rơm rạ giữ ẩm. Phun thuốc trừ sâu vẽ bùa, rệp sáp và rầy hàng tháng.
Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017
Trồng cam V2 năng suất cao
1. Chuẩn bị đất và chuẩn bị đất trồng:(Kĩ thuật trồng cây Cam V2)
* Chọn đất: - Có tầng dầy từ 1 m trở lên, kết cấu xốp để giữ mầu, và thoát nước tốt, giàu mùn và các chất dinh dưỡng. Độ dốc của đất từ 3- 20o (tốt nhất là 3-80 ).
- Chọn địa điểm trồng: + Xa các vườn cây ăn quả có múi đã bị nhiễm bệnh virus hoặc tương tự virus, bệnh vi khuẩn như bệnh loét.
+ Không trồng trên các vườn đã trồng cây ăn quả có múi cũ đã có triệu chứng tiền nhiễm tuyến trùng hoặc các bệnh nấm như Phytophthora.
+ Không nên trồng trên các vùng quá khô hạn, xa nguồn nước tưới hoặc nơi đất trũng, khó thoát nước.
+ Vệ sinh đồng ruộng: Chặt bỏ các cây có múi bị bệnh virus hoặc tương tự virus ở vùng xung quanh.
- Giải phóng đất sớm trước khi trồng. Nếu là đất chu kì 2 nên trồng 2-3 vụ cây họ đậu để cải tạo đất.
+ Tạo cách ly không gian với các vùng xung quanh để tránh các vectors lây nhiễm bệnh: Trồng hàng cây chắn gió, tốt nhất nên trồng bạch đàn, keo tai tượng, cao su... Hàng cây chắn gió có thể ngăn được một số loài sâu bệnh hại, vectors truyền bệnh và ngăn cản được những đợt gió mạnh và nóng đặc biệt là các tỉnh Bắc Trung bộ... làm giảm nhiệt độ và giảm thoát nước bề mặt khi gặp gió Tây Nam.
* Chuẩn bị đất trồng
Bao gồm: phát quang, san mặt bằng; thiết kế vườn trồng; đào hố; bón phân lót và lấp hố; các công việc khác như làm đường, mương rãnh tưới tiêu nước,...
- Phát quang và san ủi mặt bằng
+ Đối với những đồi rừng chuyển sang trồng cây ăn quả nói chung và trồng cam V2 đều phải phát quang, thậm chí phải đánh bỏ toàn bộ rễ cây rừng và san ủi tạo mặt phẳng tương đối để cho việc thiết kế vườn được dễ dàng. Trừ những nơi đất quá dốc ( từ khoảng 100 trở lên ) sẽ áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, nghĩa là chỉ phát quang, dãy cỏ, san lấp những chỗ quá gồ ghề sau đó thiết kế và đào hố trồng cây, còn ở những nơi đất không quá dốc hoặc bằng, sau khi phát quang, san ủi sơ bộ có thể dùng cày máy hoặc cày trâu cày bừa một lượt để vừa sạch cỏ vừa tạo cho bề mặt vườn tơi xốp ngăn được sự bốc hơi nước của vườn sau khi bị phát quang.
+ Đối với các loại đất chuyển đổi khác sang trồng cam V2 cũng cần phải dọn sạch và tạo lại mặt bằng trước khi thiết kế .
- Thiết kế vườn trồng (Kĩ thuật trồng cây Cam V2)
Thiết kế vườn trồng bao gồm các nội dung công việc như bố trí lô thửa, đường đi, mương, rãnh tưới tiêu nước, bố trí mật độ, khoảng cách vv…
+ Tuỳ theo quy mô diện tích và địa hình đất mà có thiết kế vườn trồng một cách phù hợp. Đối với đất bằng hoặc có độ dốc từ 3 – 50 nên bố trí cây theo kiểu hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tam giác ( kiểu nanh sấu ). Đất có độ dốc từ 5 – 100 phải trồng cây theo đường đồng mức, khoảng cách của hàng cây là khoảng cách của đường đồng mức. Ở độ dốc 8 –100 nên thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang đơn giản , dưới 80 có thể áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, trên 100 phải thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang kiên cố.
+ Đối với vườn diện tích nhỏ dưới 1ha không cần phải thiết kế đường giao thông, song với diện tích lớn hơn thậm chí tới 5 - 10 ha cần phải phân thành từng lô nhỏ có diện tích từ 0,5 đến 1ha/lô và có đường giao thông rộng để có thể vận chuyển vật tư phân bón và sản phẩm thu hoạch bằng xe cơ giới, đặc biệt đối với đất dốc cần phải bố trí đường
+ Thiết kế lô, thửa, xây dựng hệ thống chống xói mòn, hệ thống tưới và thoát nước.
+ Chọn cây ngắn ngày trồng xem thích hợp, nhất là cây họ đậu.
2. Thời vụ trồng: (Kĩ thuật trồng cây Cam V2)
Ở các tỉnh phía Bắc thời vụ trồng cam quýt là mùa xuân (Tháng 2 - 4) hoặc mùa thu. Nhưng tốt nhất là trồng vào mùa xuân hoặc đầu mùa mưa.
3. Mật độ: (Kĩ thuật trồng cây Cam V2)
Mật độ trồng nên trồng 4 x 5 m.
4. Kỹ thuật trồng(Kĩ thuật trồng cây Cam V2)
- Đào hố : hố trồng cam có kích thước 0,8 x 0,8 x 0,8m hoặc 1 x 1 x 1m, khi đào hố cần lưu ý để lớp đất mặt về một phía, lớp đất phía dưới về một phía. Sau khi đào hố xong, hố được phơi khô ít nhất là 1 tháng, dùng 1kg vôi bột rắc xung quanh hố. Ở các vùng đất cứng, thoát nước kém hố đào sâu có thể trở thành vũng nước mưa, gây nghẹt rễ, cần có biện pháp thoát nước.
- Chuẩn bị phân bón lót: Mỗi hố bón từ 50- 80kg phân chuồng hoai mục + 1kg P2O5 + 5 - 10 kg xỉ than trộn với lớp đất phía dưới cho vào hố, lớp đất mặt + 100g urê + 100g K2O5. Trồng xong nên phủ gốc để chống thoát hơi nước và cỏ dại, phủ cách gốc 10cm.
- Chăm sóc
+ Làm cỏ: Cỏ xung quanh gốc cần được nhổ sạch. Phần đường lô nên chỉ cắt cỏ để giữ ẩm, chống xói mòn đất và là nơi cư trú của côn trùng có ích trong vườn cam.
+ Bón phân: Bón phân nhằm cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cây bao gồm nguyên tố đa lượng (N, P, K, Ca), các nguyên tố vi lượng (Bo, Cu, Zn, Mn, Mg…) để cây sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng cao, tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh hại. Hàng năm cần bón bổ sung 30- 40kg phân chuồng hoặc phân hữu cơ/cây kết hợp với bón phân hoá học. Cách bón: Đào rãnh sâu 25-30cm theo tán cây, bón rồi lấp đất lại và tưới nước.
* Chọn đất: - Có tầng dầy từ 1 m trở lên, kết cấu xốp để giữ mầu, và thoát nước tốt, giàu mùn và các chất dinh dưỡng. Độ dốc của đất từ 3- 20o (tốt nhất là 3-80 ).
- Chọn địa điểm trồng: + Xa các vườn cây ăn quả có múi đã bị nhiễm bệnh virus hoặc tương tự virus, bệnh vi khuẩn như bệnh loét.
+ Không trồng trên các vườn đã trồng cây ăn quả có múi cũ đã có triệu chứng tiền nhiễm tuyến trùng hoặc các bệnh nấm như Phytophthora.
+ Không nên trồng trên các vùng quá khô hạn, xa nguồn nước tưới hoặc nơi đất trũng, khó thoát nước.
+ Vệ sinh đồng ruộng: Chặt bỏ các cây có múi bị bệnh virus hoặc tương tự virus ở vùng xung quanh.
- Giải phóng đất sớm trước khi trồng. Nếu là đất chu kì 2 nên trồng 2-3 vụ cây họ đậu để cải tạo đất.
+ Tạo cách ly không gian với các vùng xung quanh để tránh các vectors lây nhiễm bệnh: Trồng hàng cây chắn gió, tốt nhất nên trồng bạch đàn, keo tai tượng, cao su... Hàng cây chắn gió có thể ngăn được một số loài sâu bệnh hại, vectors truyền bệnh và ngăn cản được những đợt gió mạnh và nóng đặc biệt là các tỉnh Bắc Trung bộ... làm giảm nhiệt độ và giảm thoát nước bề mặt khi gặp gió Tây Nam.
* Chuẩn bị đất trồng
Bao gồm: phát quang, san mặt bằng; thiết kế vườn trồng; đào hố; bón phân lót và lấp hố; các công việc khác như làm đường, mương rãnh tưới tiêu nước,...
- Phát quang và san ủi mặt bằng
+ Đối với những đồi rừng chuyển sang trồng cây ăn quả nói chung và trồng cam V2 đều phải phát quang, thậm chí phải đánh bỏ toàn bộ rễ cây rừng và san ủi tạo mặt phẳng tương đối để cho việc thiết kế vườn được dễ dàng. Trừ những nơi đất quá dốc ( từ khoảng 100 trở lên ) sẽ áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, nghĩa là chỉ phát quang, dãy cỏ, san lấp những chỗ quá gồ ghề sau đó thiết kế và đào hố trồng cây, còn ở những nơi đất không quá dốc hoặc bằng, sau khi phát quang, san ủi sơ bộ có thể dùng cày máy hoặc cày trâu cày bừa một lượt để vừa sạch cỏ vừa tạo cho bề mặt vườn tơi xốp ngăn được sự bốc hơi nước của vườn sau khi bị phát quang.
+ Đối với các loại đất chuyển đổi khác sang trồng cam V2 cũng cần phải dọn sạch và tạo lại mặt bằng trước khi thiết kế .
- Thiết kế vườn trồng (Kĩ thuật trồng cây Cam V2)
Thiết kế vườn trồng bao gồm các nội dung công việc như bố trí lô thửa, đường đi, mương, rãnh tưới tiêu nước, bố trí mật độ, khoảng cách vv…
+ Tuỳ theo quy mô diện tích và địa hình đất mà có thiết kế vườn trồng một cách phù hợp. Đối với đất bằng hoặc có độ dốc từ 3 – 50 nên bố trí cây theo kiểu hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tam giác ( kiểu nanh sấu ). Đất có độ dốc từ 5 – 100 phải trồng cây theo đường đồng mức, khoảng cách của hàng cây là khoảng cách của đường đồng mức. Ở độ dốc 8 –100 nên thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang đơn giản , dưới 80 có thể áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, trên 100 phải thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang kiên cố.
+ Đối với vườn diện tích nhỏ dưới 1ha không cần phải thiết kế đường giao thông, song với diện tích lớn hơn thậm chí tới 5 - 10 ha cần phải phân thành từng lô nhỏ có diện tích từ 0,5 đến 1ha/lô và có đường giao thông rộng để có thể vận chuyển vật tư phân bón và sản phẩm thu hoạch bằng xe cơ giới, đặc biệt đối với đất dốc cần phải bố trí đường
+ Thiết kế lô, thửa, xây dựng hệ thống chống xói mòn, hệ thống tưới và thoát nước.
+ Chọn cây ngắn ngày trồng xem thích hợp, nhất là cây họ đậu.
2. Thời vụ trồng: (Kĩ thuật trồng cây Cam V2)
Ở các tỉnh phía Bắc thời vụ trồng cam quýt là mùa xuân (Tháng 2 - 4) hoặc mùa thu. Nhưng tốt nhất là trồng vào mùa xuân hoặc đầu mùa mưa.
3. Mật độ: (Kĩ thuật trồng cây Cam V2)
Mật độ trồng nên trồng 4 x 5 m.
4. Kỹ thuật trồng(Kĩ thuật trồng cây Cam V2)
- Đào hố : hố trồng cam có kích thước 0,8 x 0,8 x 0,8m hoặc 1 x 1 x 1m, khi đào hố cần lưu ý để lớp đất mặt về một phía, lớp đất phía dưới về một phía. Sau khi đào hố xong, hố được phơi khô ít nhất là 1 tháng, dùng 1kg vôi bột rắc xung quanh hố. Ở các vùng đất cứng, thoát nước kém hố đào sâu có thể trở thành vũng nước mưa, gây nghẹt rễ, cần có biện pháp thoát nước.
- Chuẩn bị phân bón lót: Mỗi hố bón từ 50- 80kg phân chuồng hoai mục + 1kg P2O5 + 5 - 10 kg xỉ than trộn với lớp đất phía dưới cho vào hố, lớp đất mặt + 100g urê + 100g K2O5. Trồng xong nên phủ gốc để chống thoát hơi nước và cỏ dại, phủ cách gốc 10cm.
- Chăm sóc
+ Làm cỏ: Cỏ xung quanh gốc cần được nhổ sạch. Phần đường lô nên chỉ cắt cỏ để giữ ẩm, chống xói mòn đất và là nơi cư trú của côn trùng có ích trong vườn cam.
+ Bón phân: Bón phân nhằm cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cây bao gồm nguyên tố đa lượng (N, P, K, Ca), các nguyên tố vi lượng (Bo, Cu, Zn, Mn, Mg…) để cây sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng cao, tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh hại. Hàng năm cần bón bổ sung 30- 40kg phân chuồng hoặc phân hữu cơ/cây kết hợp với bón phân hoá học. Cách bón: Đào rãnh sâu 25-30cm theo tán cây, bón rồi lấp đất lại và tưới nước.




















