Hotline:0934.45.55.44

Trái cây Việt Nam

Hương vị quê hương

Đặc sản trái cây Việt Nam

Mỗi loại trái cây đều có hương vị riêng đậm đà theo hương vị của từng vùng

Đặc sản trái cây miền Nam

Đặc biệt thơm ngon, bổ dưỡng mang hương vị đặc trưng

Thứ Hai, 17 tháng 4, 2017

Kĩ thuật trồng mít thái cao sản

Mít có nguồn gốc từ Nam Ấn Độ, được phát triển trồng nhiều nhất ở các nước Đông Nam Á, Thái Lan, Philippines… ở Việt Nam cây mít được trồng từ rất lâu ở các tỉnh từ Nghệ An trở vào, trước đây mít được coi là cây trồng của người nghèo nhờ đặc tính dễ trồng



Cay Mit Thai (Sieu Som) 4
Cay Mit Thai (Sieu Som) 4
Các bộ phận của cây mít đều có giá trị sử dụng
+ Quả là sản phẩm chính, con người có thể sử dụng được toàn bộ, múi chứa nhiều calo, khá nhiều đường, đạm, và nhiều chất khoáng cần thiết khác cho cơ thể như canxi, vitamin
+ Hạt mít giàu calo hơn cả khoai lang, sắn, và cũng rất giàu các chất khoáng như: canxi, sắt…
+ Xơ mít có thể dùng làm rau, dùng để muối dưa chất lượng hơn dưa muối bằng nguyên liệu là cải, cà và một số rau khác.
+ Vỏ có gai, lõi giữa trái và lá mít là thức ăn cao cấp cho gia súc (trâu, dê, bò, hươu…), ngoài ra, gỗ thân cây mít cũng có giá trị rất tốt, nhất là lõi gỗ ở các cây to được sử dụng làm đồ gỗ mỹ nghệ nhờ thớ thịt mịn, mềm và không nứt…

Từ năm 2000 đến nay nhờ những thành tựu của khoa học công nghệ về chọn lọc giống cây trồng nói chung, cây mít nói riêng đã chọn lọc được nhiều giống mít có năng suất cao, ổn định và chất lượng ngon. Trong đó có giống mít nghệ cao sản phù hợp phát triển để ăn tươi và làm nguyên liệu cho công nghệ sấy chân không, điển hình là mít nghệ cao sản dòng M99-I được thị trường trồng nhiều và có chất lượng tốt, năng suất cao, tỉ lệ cơm đạt 40 - 50%, màu vàng tươi.
1. Thời vụ trồng: Tốt nhất là đầu mùa mưa (tháng 5-7 dương lịch hàng năm) khi có mưa và đất đủ ẩm, nếu chủ động được nguồn nước tưới thì có thể trồng sớm hơn, giúp cho cây con có điều kiện thuận lợi để phục hồi và phát triển tốt hơn trong mùa mưa.
2. Chuẩn bị đất: Mít có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, kể cả những vùng đất nghèo dinh dưỡng, đất khô ráo, thoát nước tốt, không bị ngập úng kéo dài trong mùa mưa, mực nước ngầm cách mặt đất 2 - 2,5 m, độ pH 5,5 - 7 và chủ động được nước tưới trong mùa khô để cây sinh trưởng và phát triển tốt.
3. Chuẩn bị hố trồng: Khoảng cách trồng: tùy theo đất tốt hay xấu mà có thể bố trí khoảng cách trồng khác nhau, nếu đất xấu, cằn cỗi thì nên trồng cây cách cây 5m, hàng cách hàng 6m (320 cây/ha); đất tốt thì trồng thưa hơn, cây cách cây 6m hàng cách hàng 7m (225 cây/ha). Kích thước hố: đất bằng phẳng thì đào 40 x 40 x 40cm, nếu đất có độ dốc cao hơn 7% thì đào 40 x 40cm và sâu 60cm. Xử lý hố: ngay sau khi đào hố cần bón khoảng 1 kg vôi bột/hố để xử lý hố và môi trường xung quanh, khoảng 1 tuần thì bón khoảng 0,5 kg phân super lân và  15 kg phân chuồng (hoặc phân hữu cơ khác) trộn đều với lớp đất mặt để lấp hố và lấp cao hơn mặt đất tự nhiên khoảng 5-10 cm, việc này cần làm sớm, trước khi trồng cây con khoảng 1 tháng.
4. Chuẩn bị cây con: Giống cây con phải được chuẩn bị trước, đảm bảo tiêu chuẩn để trồng như đường kính gốc lớn hơn 0,8cm, cao hơn 30cm (kể từ vết ghép), rễ phát triển mạnh, vết ghép tiếp hợp tốt, lá đang chuyển già không sâu bệnh, khuyết tật. Trước khi đưa đi trồng 2 tuần lễ phải ngừng bón phân, giảm tưới nước và huấn luyện cây con.
5. Trồng: Đất sau khi lấp đầy, có mưa hoặc tưới nước để đất đủ ẩm, ngấm phân và xuống đất ổn định thì tiến hành trồng. Moi giữa hố một lỗ sâu và to hơn bầu cây để dễ đặt cây. Dùng dao cắt đáy bầu và cắt bỏ đuôi chuột bị xoắn. Đặt bầu cây vào lỗ đã chuẩn bị, rút nhẹ túi ni long đựng bầu ra, lấp đất lại và lèn chặt xung quanh, chú ý là không cho nứt bầu đất. Nếu đất khô phải tưới ngay, tủ gốc, cắm cọc cố định cho cây khỏi đổ ngã và lay gốc khi có gió.
Các giai đoạn trồng mít  gồm hai giai đoạn, giai đoạn đầu kiến thiết cơ bản là giai đoạn ngay sau khi trồng đến lúc cho quả ổn định, giai đoạn kinh doanh thường thì từ năm thứ tư trở về sau, đây là giai đoạn rất quan trọng giúp cho cây ra hoa, đậu quả nâng cao năng suất và chất lượng để cung cấp sản phẩm tươi cũng như chế biến.
- Tưới nước: Tháng đầu sau khi trồng nếu khô hạn thì phải tưới thường xuyên 2-3 ngày/lần, sau đó, có thể tưới 4-5 ngày/lần, từ năm thứ 2 về sau chỉ cần tưới vào những tháng khô hạn và sau bón phân.
- Tiêu nước: cây mít rất sợ úng, đặc biệt là cây con, nên cần chú ý kiểm tra gốc cây nào đọng nước thì phải đắp mô ở gốc, hoặc thoát nước chậm thì phải làm mương tiêu nước kịp thời không cho úng nước ở gốc cây con.
- Làm cỏ: cần làm cỏ quanh gốc hoặc cả vườn, đối với đất dốc phải bố trí làm cỏ theo băng để hạn chế rửa trôi đất, khi làm cỏ quanh gốc cần phải chú ý vì rễ mít ăn nổi, nếu đứt rễ thì cây dễ bị bệnh, trái nhỏ, chất lượng giảm hoặc bị sượng không dùng được.
- Cắt tỉa tạo tán: Thông thường cây cao khoảng 1m trở lên thì bắt đầu cắt tỉa, trong giai đoạn đầu cắt tỉa tạo tán 2-3 lần/năm, giúp cây phát triển cân đối, các cành cấp I phân bố đều nhau, loại bỏ các cành sâu bệnh, cành già cỗi, mọc không đúng hướng, giai đoạn kinh doanh thì mỗi năm một lần ngay sau khi thu hoạch trái xong.
- Bón phân: Cây mít rất dễ tính, không bón phân mít vẫn sống nhưng chậm phát triển, ra hoa muộn, ít hoặc không có quả và nếu có quả chất lượng cũng thấp, dễ phát sinh sâu bệnh, nên cần phải bón phân.
Bón phân hữu cơ: cần phải đào mương xung quanh hay một phần tán cây để bón và lấp đất lại, số lượng bón còn tùy thuộc vào độ màu mỡ của đất và tuổi cây, có thể bón theo liều lượng như sau: năm 1: không cần bón vì đã bón lót trước khi trồng, năm 2, 3: bón vào đầu mùa mưa 15-20 kg/cây, cách gốc khoảng 80cm, năm 4: trở về sau bón theo rìa tán cây ngay sau khi thu hoạch xong khoảng 35-40 kg/cây.
Bón phân vô cơ: năm thứ 1: Sau khi trồng trong mùa mưa bón 50gam NPK 16-16-8/lần/cây/tháng, năm thứ 2: bón 4 lần với liều lượng 0,5-1 kg NPK 16-16-8/cây, năm thứ 3, 4: bón 3 lần/năm với liều lượng 1,5-2 kg NPK 16-16-16/cây. Năm thứ 4 trở về sau: bón 2 lần/năm với liều lượng 4-5 kg NPK 16-16-16/cây, và tăng dần tuỳ theo tình hình phát triển của cây.


Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2017

Bắt tay hợp tác trồng chuối xuất khẩu

Trước đây, cây chuối được người dân nông trường Sông Hậu trồng khá nhiều nhưng không tập trung. Một số nông dân xã Thới Hưng, thuộc Nông trường Sông Hậu đã mạnh dạn đầu tư trồng 10 ha chuối áp dụng công nghệ cao xuất khẩu ra nước ngoài, đạt hiệu quả cao.


Sau đó một năm, các nông dân này đã thành lập Tổ hợp tác trồng chuối cấy mô Lâm Phát Hưng và mạnh dạn đầu tư khoảng 20 tỷ đồng, cải tạo 87 ha đất hoang của nông trường để trồng chuối theo mô hình cấy mô. Đây là vườn chuối công nghệ cao đầu tiên và lớn nhất ở miền Tây.

Tổ hợp tác trồng chuối cấy mô Lâm Phát Hưng đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của Nhật Bản, Hàn Quốc từ chế biến đến đóng gói xuất khẩu. Chuối được trồng cuốn chiếu theo các giai đoạn sinh trưởng nên lúc nào cũng có thu hoạch.

Với trên 180 ngàn cây, bình quân mỗi cây có buồng nặng từ 20 đến 30 kg, dự kiến vườn chuối sẽ cho thu hoạch trên dưới 3.500 tấn để xuất khẩu ra thị trường nước ngoài với giá được bao tiêu sẵn 7.000 đồng/kg, cao gần 5 lần so với giá bình thường.

Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Bắp cải phòng chống ung thư

Điều cần lưu ý là bắp cải ­chứa một lượng chất goitrin, chất này có tác dụng chống oxy hóa nhưng không tốt đối với rối loạn tuyến giáp hoặc bướu cổ vì thế, với những người này nên hạn chế ăn rau bắp cải.

Giống như thuốc, bắp cải không chỉ có thể làm giảm các triệu chứng đau khớp mà còn có thể ngăn ngừa và điều trị đau họng do cúm. Do đó những bệnh nhân bị viêm khớp thường có thể ăn bắp cải. Đồng thời, để ngăn chặn sự viêm cổ họng do cúm, nên ăn bắp cải nhiều hơn. Khi bị đau họng, uống hỗn hợp nước bắp cải và củ cải cho thêm chút mật ong nửa giờ trước bữa ăn.
Cải bắp trị nghiện rượu: Trong bắp cải có chứa chất Glutamine có thể dùng để điều trị nghiện rượu.

Cải bắp trị đau khớp: Khi bị đau nhức, lấy lá bắp cải hơ nóng rồi đắp lên chỗ đau. Mỗi chỗ đau đắp 3-4 miếng bắp cải, rồi dùng vải buộc lại. Làm vài lần, chỗ đau sẽ hết.
Sử dụng nước ép từ rau bắp cải có tác dụng giúp cho vết loét dạ dày và tá tràng mau lành. Một cuộc nghiên cứu tiến hành trên 40 người bị loét dạ dày - tá tràng, họ được uống mỗi ngày một cốc nước ép bắp cải (tương đương với ¼ lít) trong vòng 3 tuần liền. Kết quả nội soi cho thấy, những vết loét dạ dày đã dần được phục hồi.
Bắp cải chứa nhiều sắt giúp làm tăng mức năng lượng, tăng cường tuần hoàn và trao đổi chất. Đồng thời bắp cải giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, vì bắp cải chứa nhiều viatamin C
Bắp cải chứa nhiều vitamin K giúp sản sinh protein và điều hòa khoáng xương. Vitamin K cũng giúp ngăn ngừa chứng loãng xương. Vì vậy, bắp cải được cho là rất tốt cho việc duy trì sức khỏe xương.
Nhờ chứa hàm lượng chất xơ cao, nên bắp cải được cho là có lợi cho sức khỏe tim. Chất xơ giúp ngăn ngùa những tác động tiêu cực của cholesterol lên động mạch. Điều này rất quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh tim. Do vậy, bắp cải là vũ khí tốt nhất để chống lại bệnh tim.
Bắp cải rất giàu vitamin A và tốt cho thị lực cũng như sức khỏe da. Loại vitamin này giúp giảm thoái hóa điểm vàng và phòng tránh nguy cơ đục thủy tinh thể. Nó cũng giúp làm giảm nếp nhăn trên da.

Thứ Năm, 13 tháng 4, 2017

Thoát Nghèo Nhờ Cây Ba Kích

 Xã Đồng Sơn (Hoành Bồ, Quảng Ninh) bắt đầu đưa cây ba kích tím vào trồng từ năm 2011. Mô hình trồng ba kích tím dưới tán rừng tự nhiên ở đây hiện đang phát triển tốt, mang lại nhiều triển vọng về một hướng đi giúp người dân Đồng Sơn thoát nghèo bền vững.


Trao đổi với phóng viên Phương Thúy – Báo Quảng Ninh, chị Lý Thị Loan, thôn Tân Ốc 2, một trong 17 hộ trồng ba kích tím ở Đồng Sơn cho biết: Ngoài 3ha rừng trồng keo, từ năm 2012 khi xã triển khai làm mô hình trồng ba kích thì gia đình chúng tôi cũng xin tham gia. Quá trình trồng chúng tôi được Nhà nước hỗ trợ giống, phân bón, các hộ tham gia mô hình thì phân công nhau chăm sóc cây cho tốt. Chúng tôi thấy trồng cây ba kích tím dưới tán rừng tự nhiên kỹ thuật trồng, chăm sóc không khó lắm. Trung bình mỗi năm làm 3 vụ cỏ, làm giàn, vun gốc, bón phân cho cây…

Còn ông Linh Du Hương, thôn Tân Ốc 2, xã Đồng Sơn chia sẻ: Ban đầu, chúng tôi đã được cán bộ khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật trồng ba kích và trong quá trình chăm sóc cũng tự rút ra kinh nghiệm cho mình. Hiện tại những cây ba kích phát triển ở năm thứ 4 đều bắt đầu cho củ rất tốt. Bà con ở đây ai cũng hy vọng cây ba kích sẽ cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với những cây trồng khác và sẽ được phát triển mở rộng diện tích hơn nữa.

Cây ba kích tím được trồng dưới tán rừng tự nhiên không tốn nhiều lượng phân bón song thời gian chăm sóc khá dài, mất từ 6-7 năm mới cho thu hoạch. Tuy nhiên, ba kích để càng lâu năm thì sản lượng, chất lượng dược liệu càng tốt, được thị trường ưa chuộng và giá bán cao hơn so với ba kích trồng thâm canh. Cũng theo đồng chí Phó Chủ tịch UBND xã Đồng Sơn, trong thời gian tới, xã sẽ tiếp tục mở rộng thêm 5ha diện tích trồng ba kích trong vùng sản xuất dược liệu tập trung. Đồng thời xây dựng sản phẩm ba kích tím, lá tắm người Dao trở thành những sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của địa phương.

Về vấn đề đầu ra cho sản phẩm ba kích và lá tắm người Dao cũng khá khả quan. Hiện tại đã có một số đơn vị đặt vấn đề bao tiêu toàn bộ sản phẩm ba kích tím và trên địa bàn xã cũng đang chuẩn bị có một dây chuyền chiết xuất dược liệu, giải quyết “đầu ra” cho sản phẩm lá tắm người Dao. Đối với xã vùng cao đặc biệt khó khăn như Đồng Sơn, cây ba kích tím cùng với cây keo và việc phục hồi cây thuốc nam đã góp phần mở thêm một hướng phát triển kinh tế mới cho đồng bào nơi đây.

Thứ Tư, 12 tháng 4, 2017

Kỹ thuật trồng cây cam V2 đạt chất lượng cao

Chọn đất: – Có tầng dầy từ 1 m trở lên, kết cấu xốp để giữ mầu, và thoát nước tốt, giàu mùn và các chất dinh dưỡng. Độ dốc của đất từ 3- 20o (tốt nhất là 3-80 ).


– Chọn địa điểm trồng: + Xa các vườn cây ăn quả có múi đã bị nhiễm bệnh virus hoặc tương tự virus, bệnh vi khuẩn như bệnh loét.

+ Không trồng trên các vườn đã trồng cây ăn quả có múi cũ đã có triệu chứng tiền nhiễm tuyến trùng hoặc các bệnh nấm như Phytophthora.


+ Không nên trồng trên các vùng quá khô hạn, xa nguồn nước tưới hoặc nơi đất trũng, khó thoát nước.

+ Vệ sinh đồng ruộng: Chặt bỏ các cây có múi bị bệnh virus hoặc tương tự virus ở vùng xung quanh.

– Giải phóng đất sớm trước khi trồng. Nếu là đất chu kì 2 nên trồng 2-3 vụ cây họ đậu để cải tạo đất.

+ Tạo cách ly không gian với các vùng xung quanh để tránh các vectors lây nhiễm bệnh: Trồng hàng cây chắn gió, tốt nhất nên trồng bạch đàn, keo tai tượng, cao su…

Hàng cây chắn gió có thể ngăn được một số loài sâu bệnh hại, vectors truyền bệnh và ngăn cản được những đợt gió mạnh và nóng đặc biệt là các tỉnh Bắc Trung bộ… làm giảm nhiệt độ và giảm thoát nước bề mặt khi gặp gió Tây Nam.

* Chuẩn bị đất trồng

Bao gồm: phát quang, san mặt bằng; thiết kế vườn trồng; đào hố; bón phân lót và lấp hố; các công việc khác như làm đường, mương rãnh tưới tiêu nước,…

– Phát quang và san ủi mặt bằng

+ Đối với những đồi rừng chuyển sang trồng cây ăn quả nói chung và trồng cam V2 đều phải phát quang, thậm chí phải đánh bỏ toàn bộ rễ cây rừng và san ủi tạo mặt phẳng tương đối để cho việc thiết kế vườn được dễ dàng. Trừ những nơi đất quá dốc (từ khoảng 100 trở lên ) sẽ áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, nghĩa là chỉ phát quang, dãy cỏ, san lấp những chỗ quá gồ ghề sau đó thiết kế và đào hố trồng cây, còn ở những nơi đất không quá dốc hoặc bằng, sau khi phát quang, san ủi sơ bộ có thể dùng cày máy hoặc cày trâu cày bừa một lượt để vừa sạch cỏ vừa tạo cho bề mặt vườn tơi xốp ngăn được sự bốc hơi nước của vườn sau khi bị phát quang.

+ Đối với các loại đất chuyển đổi khác sang trồng cam V2 cũng cần phải dọn sạch và tạo lại mặt bằng trước khi thiết kế .

– Thiết kế vườn trồng

Thiết kế vườn trồng bao gồm các nội dung công việc như bố trí lô thửa, đường đi, mương, rãnh tưới tiêu nước, bố trí mật độ, khoảng cách vv…

+ Tuỳ theo quy mô diện tích và địa hình đất mà có thiết kế vườn trồng một cách phù hợp. Đối với đất bằng hoặc có độ dốc từ 3 – 50 nên bố trí cây theo kiểu hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tam giác ( kiểu nanh sấu ). Đất có độ dốc từ 5 – 100 phải trồng cây theo đường đồng mức, khoảng cách của hàng cây là khoảng cách của đường đồng mức. Ở độ dốc 8 –100 nên thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang đơn giản , dưới 80 có thể áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, trên 100 phải thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang kiên cố.

+ Đối với vườn diện tích nhỏ dưới 1ha không cần phải thiết kế đường giao thông, song với diện tích lớn hơn thậm chí tới 5 – 10 ha cần phải phân thành từng lô nhỏ có diện tích từ 0,5 đến 1ha/lô và có đường giao thông rộng để có thể vận chuyển vật tư phân bón và sản phẩm thu hoạch bằng xe cơ giới, đặc biệt đối với đất dốc cần phải bố.

+ Thiết kế lô, thửa, xây dựng hệ thống chống xói mòn, hệ thống tưới và thoát nước.

+ Chọn cây ngắn ngày trồng xem thích hợp, nhất là cây họ đậu.

2. Thời vụ trồng:

Ở các tỉnh phía Bắc thời vụ trồng cam quýt là mùa xuân (Tháng 2 – 4) hoặc mùa thu. Nhưng tốt nhất là trồng vào mùa xuân hoặc đầu mùa mưa.

3. Mật độ:

Mật độ trồng nên trồng 4 x 5 m.



Trồng cam v2





4. Kỹ thuật trồng

– Đào hố : hố trồng cam có kích thước 0,8 x 0,8 x 0,8m hoặc 1 x 1 x 1m, khi đào hố cần lưu ý để lớp đất mặt về một phía, lớp đất phía dưới về một phía. Sau khi đào hố xong, hố được phơi khô ít nhất là 1 tháng, dùng 1kg vôi bột rắc xung quanh hố. Ở các vùng đất cứng, thoát nước kém hố đào sâu có thể trở thành vũng nước mưa, gây nghẹt rễ, cần có biện pháp thoát nước.

– Chuẩn bị phân bón lót: Mỗi hố bón từ 50- 80kg phân chuồng hoai mục + 1kg P2O5 + 5 – 10 kg xỉ than trộn với lớp đất phía dưới cho vào hố, lớp đất mặt + 100g urê + 100g K2O5. Trồng xong nên phủ gốc để chống thoát hơi nước và cỏ dại, phủ cách gốc 10cm.

– Chăm sóc

+ Làm cỏ: Cỏ xung quanh gốc cần được nhổ sạch. Phần đường lô nên chỉ cắt cỏ để giữ ẩm, chống xói mòn đất và là nơi cư trú của côn trùng có ích trong vườn cam.

+ Bón phân: Bón phân nhằm cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cây bao gồm nguyên tố đa lượng (N, P, K, Ca), các nguyên tố vi lượng (Bo, Cu, Zn, Mn, Mg…) để cây sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng cao, tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh hại. Hàng năm cần bón bổ sung 30- 40kg phân chuồng hoặc phân hữu cơ/cây kết hợp với bón phân hoá học. Cách bón: Đào rãnh sâu 25-30cm theo tán cây, bón rồi lấp đất lại và tưới nước.

+ Tỉa cành tạo tán: Sau khi trồng cây đã ổn định tiến hành cắt cành ngọn để tạo tán cho cây phát triển thành 3-4 cành cấp I theo 4 hướng, từ mỗi cành cấp I lại để 3-4 cành cấp II…

Các cành vượt cũng thường xuyên cắt tỉa (chú ý cắt sát thân cành để tạo mô sẹo).

Cành mang quả nhiều cũng cần tỉa quả để quả phát triển đồng đều.

+ Tưới nước: Sau khi trồng nên tưới nước 2-3 lần nếu trời không mưa để tạo điều kiện cho rễ phát triển. Những nơi có hệ thống tưới cần chú ý tưới cho cây ở thời kỳ phát lộc hoặc sau các đợt bón phân.

– Chống tái nhiễm bệnh: Thường xuyên thăm vườn, cắt cành hoặc chặt bỏ cành, cây có triệu chứng bệnh greening và các bệnh virus khác.

Phun thuốc trừ sâu nội hấp khi phát hiện rầy chổng cánh (Diaphorina citri) môi giới truyền bệnh greening và rệp aphid môi giới truyền bệnh Tristeza (chú ý các đợt lộc).

4. Phòng trừ tổng hợp các loại sâu bệnh:

Trong vườn cây có múi nhiều loại sâu bệnh khác như: sâu đục thân, sâu vẽ bùa, nhện, bệnh loét, bệnh chảy gôm… Các loại sâu bệnh

này chỉ có thể phòng trừ có hiệu quả bằng việc áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp.

Bệnh thối rễ cây vú sữa tại đồng bằng sông Cửu Long

Bệnh thối rễ là một trong những đối tượng dịch hại nguy hiểm và gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho cây vú sữa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đặc biệt ở vùng trồng tập trung cây vú sữa cuả tỉnh Tiền Giang và Cần Thơ
Triệu chứng:

Trên lá: Triệu chứng khá phổ biến và điển hình cuả bệnh thối rễ trên cây vú sữa là cây còi cọc, kích thước lá bị thu nhỏ lại hay còn gọi “lá me”, tán lá thưa, có màu xanh xám, đôi khi lá trên một số hay phần lớn các cành bị rụng dẫn đến hiện tượng cây bị trơ cành. Nếu cây mang nhiều trái thì chỉ thu hoạch được những lứa trái đầu tiên, trong khi đó phần lớn lượng trái còn lại đều bị héo xanh không thể thu hoạch được.

Thân: Trên những cây bị nhiễm bệnh thì da thân cây vú sữa tròn lẳng không còn gồ ghề như thân cây me.

Rễ: Hệ thống rễ tơ (rễ mền) hay kể cả rễ thứ cấp đều bị bị thối nhũn, sau đó khô và hoá nâu. Ngoài ra, bệnh còn tấn công ở vị trí cổ rễ hay một số vị trí cục bộ trên rễ chính (nằm gần mặt đất) từ đó làm cho toàn bộ hệ thống rễ bị thối khô và hoá nâu, nếu phát hiện muộn thì sẽ rất khó phòng trị.

Tác nhân: do nhiều tác nhân như: nấm Fusarium solani, Fusarium oxysporium và Pythium helicoides gây ra.

Điều kiện phát sinh, phát triển:

Bệnh thối rễ vú sữa có xu hướng gia tăng mạnh từ tháng 2 đến tháng 6dl, sau đó tiếp tục tăng nhẹ cho đến tháng 12 dương lịch. Điều này cho thấy bệnh thối rễ cây vú sữa xuất hiện vào các tháng mùa khô trong năm và kéo dài sang mùa mưa. Trong khoảng này trùng với thời điểm thu hoạch giữa vụ trở đi và nông hộ tiếp tục giai đoạn xử lý ra hoa cho vụ sau làm cho bệnh trở nên trầm trọng hơn.

Ẩm độ đất thích hợp cho bệnh phát triển >50%.

Đối với nấm F. solani, F. oxysporium, nhiệt độ môi trường thích hợp cho sự phát triển biến thiên từ 20-35 độ C, nhiệt độ tối hảo là 30 độ C. Trong khi đó nấm P. helicoides có thể phát triển trong khoảng nhiệt độ tương đối rộng 20-40 độ C và ở 30-40 độ C là điều kiện nhiệt độ lý tưởng nhất cho sự phát triển tối ưu cuả chúng. 

pH đất thuận lợi cho sự phát triển cuả tác nhân gây bệnh thối rễ cây vú sữa ở mức > pH 4-6.

Những vườn vú sữa bón càng ít phân hữu cơ hoặc không bón và sử dụng biện pháp bơm lùa để xử lý ra hoa thì có tỷ lệ bệnh càng cao.

Bệnh thối rễ cây vú sữa do nhiều tác nhân khác nhau, những tác nhân này đều có nguồn gốc phát sinh từ đất do đó đòi hỏi phải áp dụng nhiều biện pháp quản lý tổng hợp thì hiệu quả phòng trị bệnh mới đạt hiệu quả.

1. Thiết kế vườn:

Đào mương, lên líp:

Đối với những vườn trồng mới trên chân đất ruộng thì cần phải đắp mô có đường kính từ 0,8-1,0m, cao 0,4-0,6m tùy vào địa hình của từng nơi. Đất được sử dụng để đấp mô được khuyến cáo là lớp đất mặt được phơi khô.

Mương đào sâu khoảng 1,0-1,5m, bề mặt líp rộng 7-10m.

Đê bao và cây chắn gió:

Cây vú sữa chịu ngập úng kém nhưng cần đủ ẩm độ để phát triển, nên phải có bờ bao và cống thoát nước để quản lý nước trong ao và ẩm độ trong vườn. Nên giữ mực nước trong ao cao hơn mặt líp khoảng 50-80cm.

2. Biện pháp canh tác:

Bón phân cho cây trưởng thành, cho trái ổn định:

Cây vú sữa khi bước sang giai đoạn cho trái ổn định cho nên việc bón phân hợp lý vào các giai đoạn phát triển của cây, liều lượng bón thay đổi tăng dần theo độ tuổi cây.

* Lần 1: Sau khi thu hoạch: bón 5-10kg vôi/cây, sau 10-15 ngày sau bón tiếp hỗn hợp 20-40kg phân hữu cơ hoai mục + 3-4kg NPK (20-20-15)/cây.

* Lần 2: Bón thúc trái khi trái có đường kính 1cm với lượng 1-2kg Urea + 1-2kg DAP/cây.

* Lần 3: Bón thúc trái khi trái có đường kính 3cm với hổn hợp 2-3kg NPK (20-20-15) + 1-2kg KCl/ cây.

* Lần 4: Bón trước thu hoạch 60 ngày với lượng 1-2kg phân NPK + 1-2kg KCl/cây.

Phương pháp bón: xới nhẹ xung quanh 2/3 tán cây trở ra hoặc xẻ rảnh sâu 5-10cm theo mép rìa tán, bón phân và lắp đất lại và duy trì tưới nước thường liên tục trong 4-5 liên tiếp trong điều kiện mùa nắng.

Ủ gốc giữ ẩm: Rễ vú sữa ăn cạn, nhiệt độ của đất cao vào mùa nắng sẽ ảnh hưởng đến bộ rễ, do đó cần phải tủ gốc giữ ẩm bằng lá vú sữa khô, rơm rạ, cỏ khô…để giữ ẩm cho đất, nên tủ cách gốc 40-50cm.

Vét bùn bồi líp:

Đối với những vườn hình thành từ chân đất thấp (ruộng lúa) thì hàng năm tiến hành vét mương bồi bùn lên líp vào đầu mùa nắng. Vét bùn đáy mương phủ thành từng lớp tập trung ở hai bên rìa mặt líp, phơi khô rồi sau đó bồi vào mô trồng hoặc rải thành lớp mỏng khoảng 5mm theo chu vi tán cây.

Lưu ý: không được bồi bùn quá dày sẽ làm bộ rễ dễ bị ‘‘ngộp’’ (oi nước) và dễ bị nhiễm bệnh thối rễ.

Tưới nước:

- Trong mùa khô, nên tưới nước thường xuyên 2-3 ngày/ lần để cung cấp đủ nước cho cây phát triển và giúp hoa phát triển tốt, tăng đậu quả. Tránh tưới quá dư thừa nước làm ẩm độ đất đất cao tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh trong đất phát triển và tấn công.

- Ở thời điểm bắt đầu thu hoạch quả thì nên duy trì chế độ tưới định kỳ và tưới vừa phải nhằm cung cấp đầy đủ nước cho cây trong giai đoạn mang nhiều trái.

Xử lý ra hoa:

Xử lý ra hoa cho vú sữa khi cây đã trưởng thành, cho trái ổn định từ năm thứ 7 trở đi bằng phương pháp điều tiết nước và bón phân cân đối, hợp lý theo quy trình canh tác đã được khuyến cáo.

Lưu ý: Không được bơm lùa và giữ nước trên mặt liếp quá lâu làm hư bộ rễ.

3. Biện pháp cơ học:

Tỉa cành, trẻ hoá những vườn cây vú sữa già cỗi, nhiễm bệnh thối rễ giúp cây hồi phục sinh trưởng nhanh và chất lượng trái được cải thiện.

- Cuối vụ thu hoạch quả, có thể tiến hành tỉa cành tạo tán cây vú sữa bằng cách cắt bỏ cành vượt trong tán, cành sâu bệnh, cành phụ ốm yếu,….để giúp cây thông thoáng và thúc đẩy chồi mới hình thành mạnh. Nên tỉa cành để cây vú sữa phân bố cành đều theo các hướng và khống chế chiều cao không quá 4-4,5m.

- Đối với những vườn vú sữa già cỗi, cây bị nhiễm bệnh thối rễ thì tùy thuộc vào tuổi cây, mức độ nhiễm bệnh thì có thể tỉa 45-60% tán cây hoặc thấp hơn tỷ lệ này nhằm giúp cây cân bằng giữa tán cây và bộ rễ bị thối trong đất cũng như gia tăng chất lượng trái.

Lưu ý: Đối với những vết cắt trên thân, cành có đường kính lớn do trẻ hoá cây thì cần phải sử dụng sơn công nghiệp hoặc thuốc trừ nấm gốc đồng (pha với nước theo tỷ lệ 1:1) quét lên mặt vết cắt để ngăn ngừa bệnh xâm nhiễm qua vết thương.

4. Biện pháp hoá học:

Kiễm tra thường xuyên vườn để có thể phát hiện sớm nhất bệnh thối rễ trên cây vú sữa nhằm có biện pháp quản lý kịp thời và thích hợp.

* Trường hợp cây thối hệ thống rễ thứ cấp (rễ tơ, rễ mềm):

- Khi phát hiện hệ thống rễ bị thối tiến hành xử lý thuốc bằng cách xới nhẹ đất xung quanh tán cây, sau đó tưới các loại thuốc như Ridomyl 72WP, Norhield, Funomyl, Aliette theo liều lượng khuyến cáo, số lần tưới thuốc 3-5 lần/năm tùy vào tình hình diễn biến bệnh trên vườn. Nên tiến hành xử lý thuốc khi cây đang thu hoạch còn 10-20% số trái trên cây. Tưới đều dung dịch thuốc xung quanh tán cây, sau đó tưới nước liên tục 2-3 ngày để giúp thuốc hoà tan và thấm đều vào trong đất.

* Trường hợp cây thối rễ chính, cổ rễ:

- Trong trường hợp cây bị thối ngay vị trí cổ rễ, rễ chính nằm gần mặt đất thì phải cào đất ra cho lộ rỏ toàn bộ bộ phận rễ bệnh, cạo sạch vết bệnh và sử dụng cùng các loại thuốc nêu trên bằng cách pha đậm đặc theo tỷ lệ 1:1 (thuốc : nước) và quét lên vị trí vết bệnh kết hợp với tưới thuốc chung quanh vị trí này. Lặp lại nhiều lần (3-4 lần), mỗi lần cách nhau 7-10 ngày cho đến khi kiễm tra thấy vết bệnh hết thối. Sau xử lý thuốc, nên sử dụng vật liệu che đậy gốc: cỏ khô, mụn dừa,…nhằm giúp rễ tơ mới mọc ra nhanh và tránh bị ánh sáng mặt trời tác động trực tiếp.

- Có thể tưới hỗ trợ các chế phẩm kích thích sinh trưởng bộ rễ nhằm gia tăng sự phát triển rễ mới như: Root 2, …ngay sau khi tưới thuốc hoá học khoảng 7 ngày. Tưới định kỳ 1-2 lần/tháng cho đến khi kiễm tra thấy cây ra rễ mới.

- Nên phun ngừa lên tán cây thuốc trừ bệnh nứt cành do nấm Botryospaeria rhodia bằng thuốc Thiophanate-Methyl (Topsin M,…), Fenbuconazole (Indar,….), Myclobutanil (Centerbig, Usagold,…) ở giai đoạn cây ra đọt, cành non, cần phun mỗi đợt cành từ 2-3 lần phun thuốc.

- Kết hợp rải Basudin 10H, Regent 0,3G (100 -150g/gốc), hoặc Sincosin kết hợp với Agrispon cho cây theo liều lượng khuyến cáo trên bao bì để diệt tuyến trùng trong đất, xử lý 1-2lần/năm hoặc nhiều hơn nếu đất bị nhiễm tuyến trùng nặng. Trước khi xử lý nên xới nhẹ mặt liếp, xung quanh gốc cây và rải thuốc đều theo chu vi tán cây. Sau đó, tưới xả nước nhiều lần để thuốc có thể thấm đều vào đất và tiếp xúc với rễ cây.

5. Biện pháp sinh học:

Bón nhiều phân hữu cơ đặc biệt là phân chuồng ủ hoai (20-40kg/gốc) kết hợp với nấm đối kháng Trichoderma để tiêu diệt mầm bệnh gây hại có trong đất, chú ý là không nên cung cấp chế phẩm vi sinh Trichoderma cho cây trong khi tưới thuốc trừ nấm ít nhất là 15 ngày.

Ngoài ra, cũng nên kết hợp sử dụng xạ khuẩn Streptomyces và vi khuẩn kích thích vùng rễ Pseudomonas cũng có vai trò diệt mầm bệnh và hỗ trợ cây phát triển tốt.

Có thể trồng cây vạn thọ xung quanh gốc cây để giảm mật số của tuyến trùng trong đất.

6. Tóm tắt quy trình theo giai đoạn sinh trưởng của cây

6.1. Giai đoạn sau thu hoạch:

- Tiến hành vệ sinh vườn: thu gom lá khô trên mặt líp, trái bị nhiễm sâu bệnh, cắt tỉa cành sâu bệnh, cành vượt bên trong tán, cành ốm yếu.

- Có thể tỉa cành tạo tán hay trẻ hoá cho cây tùy thuộc điều kiện sinh trưởng cuả vườn cây.

- Bón vôi cho toàn bộ vườn với liều lượng khoảng 5-10kg/ cây trưởng thành.

- Xử lý thuốc trừ nấm gây bệnh thối rễ: Ridomil, Norshield, Funomyl,…kết hợp với thuốc trừ tuyến trùng: Basudin, Vibasu, Nokaph,… Tiến hành xử lý thuốc khi cây còn 10-20% số trái trên cây. Trước khi tưới thuốc nên xới nhẹ đất xung quanh tán cây nhằm giúp thuốc dễ thấm sâu vào đất hơn và tiếp xúc với hệ thống rễ. Tưới thuốc lặp lại 2 - 3lần, mỗi lần cách nhau 7 - 10 ngày. Ngoài ra, có thể tưới bổ sung thuốc kích thích ra rễ ở thời điểm 14 ngày sau khi xử lý thuốc trừ bệnh thối rễ lần 2 và lặp lại 2-3 lần.

- Rải phân hữu cơ đã được ủ hoai kết hợp với nấm đối kháng Trichoderma, Streptomyces và Pseudomonas với liều lượng 10-20kg/cây trưởng thành. 

6.2. Giai đoạn chuẩn bị xử lý ra hoa:

- Bón phân cân đối, hợp lý giữa các thành phần đa, trung và vi lượng; chăm sóc cây theo đúng quy trình canh tác cây vú sữa.

- Phun ngừa bệnh nứt cành (B. rhodia) cho toàn bộ tán cây bằng các loại thuốc hóa học: Thiophanate-Methyl (Topsin M,…), Fenbuconazole (Indar,….), Myclobutanil (Centerbig, Usagold,…) ở giai đoạn cây ra đọt, cành non, cành chuẩn bị chuyển sang bánh tẻ. Đề nghị số lần phun thuốc phòng trị bệnh nứt cành từ 1-2 lần phun.

- Tiếp tục xử lý thuốc trừ bệnh thối rễ lần 4 với các loại thuốc nêu trên.

6.3. Giai đoạn cây mang trái

- Tỉa bỏ bớt trái bị nhiễm sâu bệnh, tì vết, cành nhỏ mang quá nhiều trái.

- Tiếp tục cung cấp thêm phân vô cơ theo quy trình canh tác và bón tăng cường phân hữu cơ hữu cơ ủ hoai/thương mại khoảng 2-5kg/gốc.

- Có thể xử lý bổ sung thuốc trừ bệnh thối rễ lần 5 trong trường hợp kiễm tra vườn phát hiện tỷ lệ rễ thối đạt khoảng 30% trở lên.

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

6 lợi ích tuyệt vời của việc ăn trái cây tươi mõi ngày

Trái cây có rất nhiều chất dinh dưỡng, chất xơ và các vitamin nên nó sẽ giúp bạn khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần, giảm nguy cơ mắc bệnh tật.


Bổ sung trái cây vào chế độ ăn uống hàng ngày sẽ đem lại những lợi ích sức khỏe tuyệt vời. Có nhiều lý do để bạn ăn trái cây mỗi ngày, nhưng hãy nhớ rằng tiêu thụ trái cây tươi sẽ tốt hơn nhiều so với các loại trái cây bảo quản hay đóng hộp.
Trái cây là chất xơ phong phú và nó có lượng calo thấp nên nó cũng đặc biệt có lợi cho những người muốn giảm cân mà vẫn tràn đầy năng lượng.

Dưới đây là 5 lợi ích của việc ăn trái cây tươi hàng ngày:

Tránh ung thư

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, chế độ ăn uống bao gồm 5 phần trái cây mỗi ngày có thể giúp giảm sự phát triển của bệnh ung thư đi.

Nhiều nghiên cứu nhận thấy rằng hầu hết các bệnh ung thư phát triển là do thiếu hụt các chất dinh dưỡng nhất định. Các loại quả mọng và cà chua là những loại trái cây giàu chất chống oxy hóa nên sẽ có khả năng chiến đấu chống lại bệnh ung thư hiệu quả.

Ngăn chặn các bệnh mãn tính

Một trong những lý do để bạn ăn trái cây hàng ngày là ngăn ngừa các bệnh tim mãn tính. Trái cây chứa ít calo và là một nguồn tuyệt vời của vitamin, khoáng chất.

Trái cây đồng thời chứa chống oxy hóa và axit folic nên giúp làm giảm huyết áp, tránh bệnh tim mạch. Táo, cam và chuối là những siêu trái cây cho bạn một trái tim khỏe mạnh.
Tăng cường trí não

Trong một nghiên cứu, các nhà khoa học thấy rằng ăn quả việt quất có thể tăng cường trí nhớ của bạn. Các bệnh liên quan đến suy giảm trí nhớ thường liên quan đến tuổi tác, nhưng điều may mắn là bệnh có thể được ngăn ngừa bằng cách tiêu thụ các loại trái cây trong chế độ ăn uống hàng ngày.

Quả việt quất có chất dinh dưỡng giúp phát triển các tế bào não mới để ngăn chặn suy giảm trí nhớ. Đây là một trong những lý do tại sao bạn nên ăn loại quả này mỗi ngày.

Giảm cân

Thay thế đồ ăn chứa dầu mỡ bằng các loại trái cây là một quyết định vô cùng thông minh. Ăn trai cây vào bữa ăn nhẹ giữa các bữa ăn chính sẽ giúp bạn no hơn, lại tránh được nguy cơ ăn nhiều, do vậy cũng làm giảm nguy cơ tăng cân.

Làm đẹp da

Bạn muốn có một làn da sáng, vậy thì đừng hỏi tại sao bạn nên ăn trái cây mỗi ngày. Hầu hết các loại trái cây, đặc biệt là bơ, có một số lượng lớn các vitamin E có khả năng làm chậm tốc độ lão hóa và giúp da sáng đẹp.

Tăng cường miễn dịch

Một số loại trái cây có một sự kết hợp tuyệt vời của vitamin C, vitamin A và các loại carotenoid (một dạng chất chống oxy hóa)... nhờ đó nó dễ dàng góp phần tăng sức mạnh hệ miễn dịch của bạn. Trái cây như xoài là sự lựa chọn tốt nhất cho bạn.

Trái cây có thể được gọi là siêu thực phẩm cho bạn khỏe mạnh, xinh đẹp, trẻ trung, hạnh phúc và yêu đời. Vậy thì còn chờ gì nữa mà không chọn các loại trái cây bạn thích để bổ sung trong chế độ ăn uống hàng ngày của bạn.